
Phật giáo Việt Nam · Di sản
Kiến trúc chùa Việt
Ngôi chùa Việt truyền thống ít khi là một tòa nhà đơn lẻ, mà là một quần thể nhiều nếp nhà nối với nhau theo những bố cục quen thuộc như chữ Đinh, chữ Công, chữ Tam. Hiểu cách bố trí ấy, khi đi chùa ta sẽ biết mình đang đứng ở đâu và đang lễ trước những vị nào.
Chùa của làng
Tục ngữ có câu "đất vua, chùa làng": phần lớn ngôi chùa thuộc về cộng đồng làng xã. Dựng chùa là việc lớn của cả làng. Vật liệu và tiền bạc do mọi tầng lớp trong làng góp công đức. Ở nhiều chùa, tên người đóng góp còn khắc trên cột gỗ lim, trên bàn thờ đá, bát hương, chân đèn.
Chùa xưa làm bằng những vật liệu quen thuộc: tre, tranh, gỗ, gạch, ngói. Nhưng người ta luôn dành cho chùa những vật liệu tốt nhất có được. Theo một thống kê, cả nước có hơn 18 nghìn ngôi chùa, chiếm khoảng 36% số di tích.
Đi từ cổng vào trong
Một ngôi chùa truyền thống thường có những phần sau, tính từ ngoài vào:
- Tam quan: cổng chùa, thường là một nếp nhà có ba lối vào. Có chùa có hai lớp, tam quan ngoài và tam quan trong. Tầng trên tam quan có thể làm gác chuông.
- Sân chùa: có cây cảnh, non bộ. Có chùa dựng tháp ngay giữa sân, như chùa Dâu.
- Bái đường (tiền đường): nếp nhà đầu tiên, phải bước lên vài bậc thềm mới tới. Giữa bái đường là hương án, nơi khách đến chùa thường thắp hương. Bái đường nhỏ nhất ba gian, thường là năm gian. Hai bên thường có hai pho Hộ pháp lớn, dân gian gọi là ông Thiện và ông Ác.
- Chính điện (thượng điện): phần quan trọng nhất, nơi đặt các pho tượng Phật chính.
- Hành lang: hai dãy nhà chạy dọc hai bên, thường bày tượng La Hán hoặc các vị Tổ.
- Hậu đường (nhà Tổ): thờ các vị sư từng trụ trì chùa đã viên tịch, và thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Gác chuông không có chỗ cố định: có chùa đặt phía trước, có chùa phía sau, có chùa ngay trên tam quan. Nhiều chùa còn có vườn tháp, nơi giữ xá lợi các vị sư, cùng giếng nước, ao sen và vườn cây.

Những kiểu bố cục
Tên các kiểu chùa thường lấy theo chữ Hán có dáng gần giống mặt bằng của chùa:
- Chữ Đinh (丁): chính điện nối vuông góc với bái đường phía trước, như chùa Trăm Gian.
- Chữ Công (工): bái đường và chính điện song song, nối với nhau bằng một nếp nhà ở giữa gọi là nhà thiêu hương, có nơi gọi là ống muống. Đây là kiểu phổ biến nhất. Khối chính của chùa Vĩnh Nghiêm làm theo kiểu này.
- Chữ Tam (三): ba nếp nhà song song, thường gọi là chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, như chùa Tây Phương với bái đường, chính điện và hậu cung.
- Nội công ngoại quốc: bên trong là khối chữ Công, bên ngoài có hai dãy hành lang dài nối tiền đường với hậu đường, khép thành một khung chữ nhật như nét bao ngoài của chữ Quốc. Chùa Keo giữ 17 công trình với 128 gian theo kiểu này, toàn bằng gỗ lim.
Cũng có những ngôi chùa khác hẳn, như chùa Một Cột dựng như một bông sen nở trên mặt nước. Ở Nam Bộ, chùa của người Khmer có kiến trúc riêng (xem bài Phật giáo Nam tông Khmer).
Tượng trong chính điện
Chính điện có nhiều lớp bàn thờ, cao ở trong và thấp dần ra ngoài, lớp cuối cùng là hương án. Mỗi chùa bày một khác, nhưng thường gặp thứ tự sau, tính từ lớp cao nhất:
- Tam thế Phật: ba pho tượng giống nhau, tượng trưng cho chư Phật ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.
- Di Đà tam tôn: Đức Phật A Di Đà ở giữa, hai bên là Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí.
- Đức Phật Thích Ca ngồi giữa, hai bên là Văn Thù và Phổ Hiền, hoặc hai vị đệ tử Ca Diếp và A Nan.
- Tòa Cửu Long: Đức Phật lúc mới đản sinh, có chín con rồng phun nước tắm cho Ngài.
Nhiều chùa còn có tượng Đức Phật Di Lặc với nụ cười hoan hỷ, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, hay tám vị Kim Cương mặc giáp đứng hai bên.
Tiền Phật hậu Thần
Ở nhiều chùa miền Bắc, phía sau điện thờ Phật còn có điện thờ Thần. Kiểu chùa này gọi là "tiền Phật hậu Thần". Các vị được thờ thường là những người có thật, nhờ tu luyện mà có tài lạ, từng giúp dân giúp nước, nên được dân thờ phụng. Ở chùa Keo, khu thờ Phật ở phía trước, phía sau là khu đền thờ thánh Không Lộ, vị thiền sư đời Lý tương truyền đã dựng ngôi chùa đầu tiên.
Nhiều chùa còn có điện thờ Mẫu, hay thờ Tứ pháp như vùng chùa Dâu. Đây là một nét riêng của chùa Việt: đạo Phật không gạt bỏ tín ngưỡng của người dân, mà mở lòng đón nhận (xem bài Phật giáo du nhập vào Việt Nam).
Khi đi chùa
- Lễ Phật trước hương án ở bái đường, rồi đi chậm qua các lớp nhà, nhìn từng lớp tượng để biết mình đang đứng trước vị nào.
- Muốn thấy rõ các kiểu bố cục, có thể viếng chùa Keo, chùa Bút Tháp, chùa Tây Phương và chùa Vĩnh Nghiêm.
- Chùa của làng là của chung. Giữ chùa sạch sẽ và yên tĩnh cũng là một cách cúng dường.