
Đức Phật A Di Đà
Đức Phật A Di Đà là giáo chủ cõi Cực Lạc ở phương Tây. Với người Việt, Ngài là vị Phật gần gũi nhất: câu "Nam Mô A Di Đà Phật" vang lên trong thời kinh ở chùa, bên bàn thờ trong nhà, và cả trong lời chào nhau của người tu. Pháp môn niệm danh hiệu Ngài để cầu sinh về cõi Tịnh độ là pháp môn phổ biến nhất trong Phật giáo Việt Nam.
Tên gọi: A Di Đà phiên âm từ hai danh hiệu tiếng Phạn. Amitābha là Vô Lượng Quang, ánh sáng không có giới hạn. Amitāyus là Vô Lượng Thọ, thọ mạng không có giới hạn. Ánh sáng nói về trí tuệ chiếu khắp mười phương, thọ mạng nói về lòng từ bi không bao giờ dứt.
Tiền thân: Theo Kinh Vô Lượng Thọ, xưa kia có một vị vua nghe Đức Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp, liền bỏ ngôi xuất gia, hiệu là Tỳ-kheo Pháp Tạng. Ngài suy xét công đức trang nghiêm của vô số cõi Phật suốt năm kiếp, rồi phát bốn mươi tám lời nguyện lớn để lập nên một cõi thanh tịnh bậc nhất cho chúng sinh. Kinh nói Ngài đã thành Phật từ mười kiếp trước.
Thế giới: Kinh A Di Đà kể cõi Cực Lạc cách cõi này mười vạn ức cõi Phật về phương Tây. Ở đó có ao bảy báu, nước tám công đức, hoa sen lớn như bánh xe; chim và gió trong rặng cây báu đều phát ra tiếng pháp. Người sinh về đó không còn khổ, chỉ có an vui, và tiếp tục tu cho đến khi thành Phật. Hai bên Ngài là Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí, cùng Ngài được gọi là Tây Phương Tam Thánh.
Hình tượng: Tượng ngồi thường kết ấn thiền định, hai tay đặt trong lòng, có khi nâng một đài sen nhỏ. Tượng đứng thì một tay giơ lên, một tay buông xuống như đưa ra đón người, gọi là tượng tiếp dẫn. Pho tượng A Di Đà bằng đá ở chùa Phật Tích (Bắc Ninh), tạc năm 1057 thời Lý, là một bảo vật quốc gia của Việt Nam.
Đại nguyện: Bốn mươi tám lời nguyện của Ngài là nền tảng của pháp môn Tịnh độ. Lời nguyện thứ mười tám được coi là trọng tâm: ai hết lòng tin ưa, muốn sinh về cõi của Ngài, dù chỉ mười niệm, cũng được sinh về.
Ý nghĩa: Niệm Phật A Di Đà không chỉ để cầu một cõi đẹp sau khi mất. Mỗi câu niệm là một lần đưa tâm về một chỗ, buông bớt phiền não, sống hiền hơn ngay trong hiện tại. Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ và Kinh Quán Vô Lượng Thọ được gọi chung là ba kinh Tịnh độ.
Ngày lễ trong năm
Theo Kinh Vô Lượng Thọ, bản dịch chữ Hán của ngài Khang Tăng Khải, khi còn là Tỳ-kheo Pháp Tạng, Ngài phát bốn mươi tám lời nguyện trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương. Lời nguyện nào cũng kết bằng câu: nếu không được như vậy thì Ta không thành Chánh giác. Dưới đây là ý chính của từng lời nguyện; "cõi Ta" là cõi Cực Lạc.
- Nguyện cõi Ta không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta sau khi mãn thọ không còn rơi lại vào ba đường ác.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều có thân màu vàng ròng.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta hình sắc như nhau, không có người đẹp kẻ xấu.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều nhớ được việc của trăm nghìn ức na-do-tha kiếp về trước.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều có thiên nhãn, thấy được trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều có thiên nhĩ, nghe và ghi nhớ trọn lời dạy của trăm nghìn ức na-do-tha chư Phật.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều biết được tâm niệm của chúng sinh trong trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều có thần túc, trong khoảnh khắc một niệm đi qua trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta không khởi ý tham chấp nơi thân mình.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều trụ trong hàng chánh định, nhất định đến Niết-bàn.
- Nguyện ánh sáng của Ta không có hạn lượng, chiếu khắp trăm nghìn ức na-do-tha cõi Phật.
- Nguyện thọ mạng của Ta không có hạn lượng.
- Nguyện hàng Thanh văn ở cõi Ta đông đến mức chúng sinh khắp ba nghìn đại thiên thế giới cùng đếm suốt trăm nghìn kiếp cũng không biết hết.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta thọ mạng không có hạn lượng, trừ người tự nguyện dài ngắn theo ý mình.
- Nguyện ở cõi Ta, đến tên của điều bất thiện cũng không ai phải nghe.
- Nguyện vô lượng chư Phật trong mười phương đều khen ngợi danh hiệu Ta.
- Nguyện chúng sinh mười phương hết lòng tin ưa, muốn sinh về cõi Ta, dù chỉ mười niệm, đều được sinh về; chỉ trừ người phạm năm tội nghịch và phỉ báng chánh pháp.
- Nguyện chúng sinh mười phương phát tâm Bồ-đề, tu các công đức, hết lòng nguyện sinh về cõi Ta, thì lúc lâm chung Ta cùng đại chúng hiện ra trước mặt người ấy.
- Nguyện chúng sinh mười phương nghe danh hiệu Ta, nhớ nghĩ cõi Ta, trồng các cội đức và hết lòng hồi hướng muốn sinh về, đều được toại nguyện.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta đều đủ ba mươi hai tướng của bậc đại nhân.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác sinh về cõi Ta đều đạt bậc Nhất sinh bổ xứ, chỉ còn một đời là thành Phật; trừ người vì bổn nguyện muốn đi khắp các cõi để độ chúng sinh.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta nương thần lực của Phật, trong khoảng một bữa ăn đến được vô số cõi Phật để cúng dường.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta khi cúng dường chư Phật, muốn có phẩm vật gì đều có như ý.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta đều diễn nói được trí tuệ của bậc Nhất thiết trí.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta đều có thân Kim Cang Na-la-diên, vững chắc không gì phá nổi.
- Nguyện muôn vật ở cõi Ta trang nghiêm, sáng đẹp, tinh diệu đến mức dù có thiên nhãn cũng không ai kể hết tên và số.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta, dù ít công đức, cũng thấy được cây đạo tràng cao bốn trăm vạn dặm, ánh sáng vô lượng.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta đọc tụng, thọ trì, giảng nói kinh pháp đều được trí tuệ và biện tài.
- Nguyện trí tuệ và biện tài của Bồ Tát ở cõi Ta không có hạn lượng.
- Nguyện cõi Ta trong sạch, soi thấy vô lượng thế giới chư Phật mười phương như nhìn mặt mình trong gương sáng.
- Nguyện từ mặt đất đến hư không, cung điện, lầu gác, ao suối, cây hoa ở cõi Ta đều kết bằng vô lượng châu báu và trăm nghìn thứ hương; hương ấy xông khắp mười phương, Bồ Tát nào ngửi được đều tu theo hạnh Phật.
- Nguyện chúng sinh trong vô lượng thế giới mười phương được ánh sáng của Ta chạm đến thân thì thân tâm nhu hòa, vượt hơn trời người.
- Nguyện chúng sinh trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu Ta đều được vô sinh pháp nhẫn của Bồ Tát và các pháp tổng trì sâu xa.
- Nguyện người nữ trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu Ta, vui mừng tin ưa, phát tâm Bồ-đề, mong rời thân nữ, thì sau khi mãn thọ được như nguyện, không trở lại thân nữ nữa.
- Nguyện Bồ Tát trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu Ta, sau khi mãn thọ thường tu hạnh thanh tịnh cho đến khi thành Phật.
- Nguyện trời người trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu Ta, năm vóc gieo xuống đất kính lễ, vui mừng tin ưa, tu hạnh Bồ Tát, đều được trời người kính trọng.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta muốn có y phục thì vừa nghĩ đến liền có, áo đẹp đúng pháp tự nhiên ở trên thân, không phải may, nhuộm hay giặt.
- Nguyện người và trời ở cõi Ta hưởng niềm an vui như vị Tỳ-kheo đã dứt sạch phiền não.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta muốn thấy vô lượng cõi Phật trang nghiêm trong mười phương thì liền thấy rõ trong cây báu, như thấy mặt mình trong gương sáng.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta, cho đến khi thành Phật, các căn đều đầy đủ, không khiếm khuyết.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta đều được tam-muội Thanh tịnh giải thoát, trong khoảng một niệm cúng dường vô lượng chư Phật mà không rời định.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta, sau khi mãn thọ được sinh vào nhà tôn quý.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát, đầy đủ cội đức.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta đều được tam-muội Phổ đẳng, cho đến khi thành Phật thường thấy vô lượng chư Phật.
- Nguyện Bồ Tát ở cõi Ta muốn nghe pháp gì thì tự nhiên được nghe.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta liền đến bậc Bất thoái chuyển.
- Nguyện Bồ Tát cõi khác nghe danh hiệu Ta liền được đệ nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, không còn thoái chuyển trong Phật pháp.
Vãng Sanh Quyết Định Chân Ngôn
Nam mô a di đa bà dạ, đa tha già đa dạ, đa địa dạ tha.A di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ,a di rị đa tỳ ca lan đế, a di rị đa tỳ ca lan đa,già di nị, già già na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.
Namo amitābhāya tathāgatāya. Tadyathā: amṛtodbhave amṛtasiddhaṃbhave amṛtavikrānte amṛtavikrāntagāmini gagana kīrtikare svāhā.
Ý nghĩa
Tên đầy đủ là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà-la-ni, quen gọi là Chú Vãng Sanh. Phần đầu quy kính Đức Như Lai A Di Đà. Phần chú nhắc nhiều lần chữ amṛta, tức cam lộ, với ý nguyện nghiệp chướng được tiêu trừ và được sinh về cõi Tịnh độ của Ngài.
Thường tụng sau Kinh A Di Đà trong nghi thức Tịnh độ của các chùa Bắc tông.