
Phổ Hiền Bồ Tát
Bồ Tát Phổ Hiền là vị Bồ Tát của hạnh nguyện. Nếu Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ, thì Phổ Hiền tượng trưng cho sự thực hành: đem hiểu biết thành việc làm, bền bỉ và rộng khắp. Hai vị hầu hai bên Đức Phật trong bộ tượng Hoa Nghiêm Tam Thánh.
Tên gọi: Tên tiếng Phạn của Ngài là Samantabhadra. "Phổ" là khắp cả, "Hiền" là hiền thiện, tốt lành: hạnh lành của Ngài trải khắp mọi nơi, mọi lúc. Người Việt niệm danh hiệu Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Thế giới: Truyền thống Trung Hoa xem núi Nga Mi (Tứ Xuyên) là đạo tràng của Ngài, một trong bốn ngọn núi thiêng của Phật giáo Trung Hoa.
Hình tượng: Ngài thường cưỡi voi trắng sáu ngà. Voi là con vật to khỏe, bước đi chậm mà vững, như sức thực hành bền bỉ không lui; sáu ngà được giải thích là sáu pháp ba-la-mật: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Tay Ngài thường cầm cành sen hoặc cây như ý.
Trong kinh: Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, phẩm cuối của Kinh Hoa Nghiêm bản bốn mươi quyển, ghi mười đại nguyện của Ngài. Người tu Tịnh độ thường tụng phẩm này cùng các kinh Tịnh độ, vì cuối phẩm Ngài nguyện được sinh về cõi Cực Lạc. Kinh Pháp Hoa khép lại bằng phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát, nơi Ngài nguyện hộ trì những người thọ trì kinh này.
Đại nguyện: Mười đại nguyện của Ngài đi từ lễ kính, ngợi khen, cúng dường chư Phật, đến sống thuận theo chúng sinh và hồi hướng mọi công đức cho tất cả.
Ý nghĩa: Hạnh Phổ Hiền nhắc rằng tu không chỉ ở lúc ngồi thiền hay tụng kinh, mà ở từng việc lành nhỏ được làm đi làm lại mỗi ngày, không chán, không thôi. Kinh nói nguyện ấy kéo dài cho đến khi hư không hết, chúng sinh hết; mà hư không và chúng sinh thì không bao giờ hết.
Ngày lễ trong năm
Theo phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trong Kinh Hoa Nghiêm, bản dịch chữ Hán của ngài Bát-nhã đời Đường, Bồ Tát Phổ Hiền dạy mười hạnh nguyện lớn. Mỗi nguyện đều được thực hành cho đến khi hư không, chúng sinh, nghiệp và phiền não của chúng sinh đều hết; mà những điều ấy không bao giờ hết, nên nguyện cũng không bao giờ dừng.
- Lễ kính chư Phật. Cung kính lễ lạy tất cả chư Phật trong mười phương ba đời, bằng cả thân, lời nói và ý nghĩ.
- Xưng tán Như Lai. Dùng lời hay ý đẹp ngợi khen công đức của chư Phật, không bao giờ ngừng.
- Quảng tu cúng dường. Rộng làm việc cúng dường; trong mọi cách cúng dường, thực hành theo lời Phật dạy là cúng dường cao quý nhất.
- Sám hối nghiệp chướng. Thành tâm nhận ra những nghiệp xấu đã gây từ bao đời bằng thân, lời nói và ý nghĩ, và nguyện không tái phạm.
- Tùy hỷ công đức. Vui mừng trước mọi việc lành của người khác, từ chư Phật, Bồ Tát cho đến một chúng sinh nhỏ bé nhất.
- Thỉnh chuyển pháp luân. Thỉnh cầu chư Phật giảng nói chánh pháp cho chúng sinh.
- Thỉnh Phật trụ thế. Thỉnh cầu chư Phật, Bồ Tát và các bậc thầy lành ở lại lâu trên đời, vì lợi ích của chúng sinh.
- Thường tùy Phật học. Luôn học theo hạnh của Phật, như Đức Thích Ca đã không tiếc thân mạng để cầu đạo và giáo hóa.
- Hằng thuận chúng sinh. Luôn tùy thuận, giúp đỡ chúng sinh như phụng dưỡng cha mẹ, kính thờ thầy dạy; làm cho chúng sinh vui là làm cho chư Phật vui.
- Phổ giai hồi hướng. Đem tất cả công đức có được hồi hướng khắp cho mọi chúng sinh, nguyện ai cũng thoát khổ, được an vui và thành Phật.