Phật giáo Việt Nam · Lịch sử

Phật giáo thời Lê, Mạc và Nguyễn

Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, đạo Phật không còn là quốc giáo như thời Lý, Trần: Nho giáo lên ngôi, chùa chiền vắng dần. Nhưng từ thế kỷ 17, đạo Phật phục hưng mạnh mẽ ở cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong, để lại nhiều ngôi chùa và dòng thiền còn sống đến ngày nay.

Khi Nho giáo lên ngôi

Đạo Phật cực thịnh thời Trần rồi suy dần từ cuối thế kỷ 14. Các sử gia thường nêu hai lý do.

  • Từ bên trong: khi được vua chúa quý trọng, chùa chiền và tăng chúng tăng nhanh. Nhiều chùa thì nếp sống thanh quy khó giữ, và sự cúng dường nhiều khiến một số người ỷ lại.
  • Từ bên ngoài: nhiều nhà Nho cuối đời Trần công khai chỉ trích đạo Phật. Đầu thế kỷ 15, quân Minh xâm lược, tịch thu và hủy rất nhiều sách vở của nước ta, trong đó có kinh sách và trước tác Phật giáo thời Lý, Trần.

Nhà Hậu Lê lên, nhất là từ thời vua Lê Thánh Tông, Nho giáo trở thành nền tảng của việc học và việc trị nước. Đạo Phật lui về với làng quê. Chùa làng vẫn là nơi người dân lui tới, nhưng không còn những thiền sư làm thầy của vua như trước.

Phục hưng ở Đàng Ngoài

Thế kỷ 17, đất nước chia đôi: chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Ở Đàng Ngoài, đạo Phật hồi sinh nhờ các thiền sư Trung Hoa sang truyền dòng Lâm Tế và dòng Tào Động.

Hòa thượng Chuyết Chuyết (1590–1644), người Phúc Kiến, sang Đại Việt và trụ trì chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh. Ngài và học trò là thiền sư Minh Hành làm cho chùa nổi tiếng một thời. Nhiều chùa ở Hà Nội như chùa Trấn Quốc được xem là thuộc truyền thừa dòng Tào Động từ thế kỷ này.

Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay bằng gỗ sơn son thếp vàng, nhiều lớp tay xòe như vầng hào quang
Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay chùa Bút Tháp, tạc năm 1657, ảnh chụp ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Chùa Bút Tháp còn giữ pho tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay tạc năm 1657, một kiệt tác của điêu khắc Phật giáo Việt Nam.

Cuối thế kỷ 17, thiền sư Chân Nguyên (1647–1726), thuộc dòng Lâm Tế, đã khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền của người Việt từ thời Trần.

Phục hưng ở Đàng Trong

Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn dựa vào đạo Phật làm chỗ dựa tinh thần cho vùng đất mới.

  • Chùa Thiên Mụ: năm 1601, chúa Nguyễn Hoàng cho dựng chùa Thiên Mụ bên bờ sông Hương. Năm sau, vào ngày Vu Lan, chúa đến chùa lập trai đàn và bố thí.
  • Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675–1725) là một Phật tử thuần thành, thọ Bồ Tát giới, mời thiền sư Thạch Liêm từ Trung Hoa sang, cho người sang Trung Hoa thỉnh bộ Đại tạng kinh và trùng tu nhiều chùa ở Thuận Hóa.
  • Thiền sư Nguyên Thiều, người Quảng Đông, sang Đàng Trong năm 1677, lập chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định, chùa Quốc Ân ở Huế, và lập ra các dòng truyền thừa còn tiếp nối tới nay.
  • Thiền sư Liễu Quán (1667–1742), người Phú Yên, lập nên dòng thiền mang tên Ngài. Đây là lần thứ hai trong lịch sử, sau Trúc Lâm thời Trần, Việt Nam có một dòng thiền lớn do một vị tổ người Việt khai lập. Dòng Liễu Quán ảnh hưởng sâu rộng tới các chùa miền Trung và miền Nam cho đến hôm nay.

Từ thế kỷ 17, Huế trở thành trung tâm Phật giáo lớn, nơi được xem là tổ đình của Phật giáo người Việt ở miền Trung và miền Nam.

Thời nhà Nguyễn

Triều Nguyễn (1802–1945) đề cao Nho học. Đạo Phật không được coi trọng như trước, các chùa hoạt động riêng rẽ, ít liên lạc với nhau. Tuy vậy, các vua Nguyễn vẫn dựng và trùng tu nhiều chùa ở kinh đô Huế. Năm 1844, vua Thiệu Trị cho xây tháp Từ Nhân ở chùa Thiên Mụ, sau đổi tên là tháp Phước Duyên. Ngọn tháp bảy tầng soi bóng xuống sông Hương đã thành biểu tượng của xứ Huế.

Đến đầu thế kỷ 20, trước nhiều biến động của thời cuộc, các vị cao tăng và cư sĩ ba miền đứng lên chấn hưng đạo Phật (xem bài Phong trào chấn hưng Phật giáo).

Viếng những ngôi chùa của thời phục hưng

Đọc tiếp