
Phật giáo Việt Nam · Lịch sử
Phật giáo thời Trần
Thời Trần (1225–1400) là đỉnh cao của Phật giáo Việt Nam: ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông, và cũng là lúc người Việt lập nên dòng thiền của riêng mình, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Các vua Trần vừa giữ nước vừa tu thiền, sống giữa đời mà vẫn vui với đạo.
Trần Thái Tông: Phật ở trong tâm
Vua đầu nhà Trần, Trần Thái Tông, lên ngôi khi còn nhỏ. Lớn lên, có lần vua vì đau khổ chuyện riêng mà bỏ cung lên núi Yên Tử, định ở lại tu. Quốc sư Phù Vân trên núi khuyên vua, đại ý: trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong tâm; tâm lặng mà sáng suốt, ấy là Phật thật. Vua biết tu thì không cần bỏ trách nhiệm với đất nước. Vua trở về triều, vừa trị nước vừa tu học.
Trần Thái Tông để lại những tác phẩm Phật học sâu sắc như Khóa hư lục, Thiền tông chỉ nam, và nghi thức Lục thời sám hối, sám hối sáu thời trong ngày. Ông được xem là người đặt nền cho Thiền phái Trúc Lâm sau này.
Tuệ Trung Thượng Sĩ: thiền giữa đời thường
Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230–1291), tên thật là Trần Tung, là người hoàng tộc từng cầm quân đánh giặc Nguyên Mông, rồi sống đời cư sĩ tự tại. Ông là người dẫn vua Trần Nhân Tông vào cửa thiền.
Khi được vua hỏi tông chỉ của thiền là gì, ông đáp, đại ý: hãy quay về chính mình mà tìm, không thể nhận từ ai khác. Lối thiền của ông phóng khoáng, không câu nệ hình thức, đặt sự tỉnh thức vào ngay đời sống thường ngày.
Phật hoàng Trần Nhân Tông và Trúc Lâm Yên Tử
Vua Trần Nhân Tông (1258–1308) là người lãnh đạo đất nước trong hai lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1285 và 1288. Năm 1293, ông nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng. Tháng 10 năm 1299, ông lên núi Yên Tử xuất gia, lấy hiệu Hương Vân Đại Đầu đà, tu theo hạnh đầu đà khổ hạnh, người đời gọi là Điều Ngự Giác Hoàng hay Phật hoàng.
Ông lập ra Thiền phái Trúc Lâm, dòng thiền đầu tiên do người Việt sáng lập. Ông đi khắp nơi giảng đạo, khuyên dân bỏ những tục mê tín và sống theo mười điều lành. Bài phú Cư trần lạc đạo của ông nói rằng ở giữa cõi đời vẫn có thể vui với đạo, của báu có sẵn trong nhà, không cần tìm đâu xa (xem bài Thiền).
Tháng 11 năm 1308, Phật hoàng viên tịch trên đỉnh Ngọa Vân, núi Yên Tử.
Ba vị tổ Trúc Lâm
Thiền phái Trúc Lâm có ba vị tổ, gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ:
- Trần Nhân Tông, tổ thứ nhất, người sáng lập.
- Pháp Loa (1284–1330), tổ thứ hai, được Phật hoàng truyền pháp đầu năm 1308. Ngài xây nhiều chùa, độ cho rất nhiều tăng ni, và cho khắc in bộ Đại tạng kinh ở Đại Việt vào khoảng năm 1329.
- Huyền Quang, tổ thứ ba, người từng đỗ trạng nguyên rồi xuất gia, nổi tiếng với thơ thiền.
Sau ba vị tổ, hệ thống truyền thừa của Trúc Lâm không còn ghi chép rõ ràng. Mãi đến thế kỷ 17, thiền sư Chân Nguyên mới khôi phục lại dòng thiền này.

Ở làng Tức Mặc, quê hương nhà Trần, chùa Phổ Minh còn giữ ngọn tháp mười bốn tầng. Nhiều sách cho rằng tháp giữ xá lợi của vua Trần Nhân Tông; khi trùng tu, người ta tìm thấy gạch in niên hiệu năm 1305.
Một nền Phật giáo nhập thế
Đạo Phật thời Trần không tách khỏi đời sống. Các vua vừa cầm quân đánh giặc, vừa giữ giới, tụng kinh, ngồi thiền. Người tu không xa lánh xã hội, mà đem sự tỉnh thức vào việc giữ nước, chăm dân. Tinh thần ấy về sau được gọi là Phật giáo nhập thế.
Chùa chiền thời này rất nhiều. Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ chép rằng các chùa mọc lên nhan nhản khắp nơi; ở huyện Đông Triều, làng lớn có hơn mười chùa, làng nhỏ cũng năm sáu chùa. Sự ưu ái quá mức dành cho giới xuất gia về cuối đời Trần cũng là một nguyên nhân khiến đạo Phật suy dần ở các thời sau.
Bộ Thiền uyển tập anh, sách cổ nhất về lịch sử Phật giáo Việt Nam còn giữ được, cũng được kết tập vào khoảng thời này.
Viếng đất Trúc Lâm
Núi Yên Tử là trung tâm của Trúc Lâm, với chùa Hoa Yên, chùa Đồng trên đỉnh núi. Dưới chân núi có Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Chùa Côn Sơn gắn với thiền sư Huyền Quang. Mùa xuân nào cũng có rất đông người lên Yên Tử, đi lại con đường Phật hoàng đã đi hơn bảy trăm năm trước.