Phật giáo Việt Nam · Lịch sử

Phong trào chấn hưng Phật giáo

Phong trào chấn hưng Phật giáo là cuộc vận động của tăng sĩ và cư sĩ ba miền, từ những năm 1920 đến đầu những năm 1950, nhằm làm cho đạo Phật Việt Nam sống dậy sau nhiều thế kỷ suy yếu. Phần lớn hình ảnh quen thuộc của đạo Phật hôm nay, từ kinh tụng tiếng Việt, trường Phật học đến Gia đình Phật tử, bắt đầu từ phong trào này.

Đạo Phật đầu thế kỷ 20

Triều Nguyễn đề cao Nho học. Chùa chiền khắp nơi vẫn đông, nhưng mỗi chùa hoạt động riêng, không có một tổ chức chung, việc học Phật cũng sa sút. Dưới thời Pháp thuộc, đất nước bị chia làm ba kỳ, Phật giáo càng thêm rời rạc. Nhiều kinh sách cổ thất lạc. Người hiểu sâu giáo lý ít dần, trong khi nghi lễ cúng bái nhiều lên.

Cùng lúc đó, ở nhiều nước châu Á đang có những phong trào phục hưng đạo Phật. Ở Sri Lanka có đại đức Dharmapala. Ở Trung Hoa, thiền sư Thái Hư lập Phật học viện Vũ Xương năm 1912 và ra tạp chí Hải Triều Âm. Ở Việt Nam, chữ Quốc ngữ và báo chí phát triển giúp các vùng liên lạc dễ dàng hơn, và nhu cầu tìm lại giá trị truyền thống cũng mạnh lên.

Ba miền, ba hội Phật học

Từ những năm 1920, nhiều tăng sĩ và cư sĩ viết báo kêu gọi chấn hưng. Ba vị được tôn là tổ của phong trào: thiền sư Khánh Hòa ở miền Nam, thiền sư Phước Huệ ở miền Trung, và thiền sư Thanh Hanh, tức Tổ Vĩnh Nghiêm, ở miền Bắc.

Những hội Phật học đầu tiên lần lượt ra đời từ Nam ra Bắc:

  • Miền Nam: đầu những năm 1930, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học thành lập ở Sài Gòn. Hội ra tạp chí Từ Bi Âm, số đầu năm 1932, do thiền sư Khánh Hòa chủ nhiệm.
  • Miền Trung: năm 1932, Hội An Nam Phật học thành lập ở Huế. Hội trưởng là cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, một bác sĩ, còn thiền sư Giác Tiên làm chứng minh đạo sư. Hội ra tạp chí Viên Âm từ cuối năm 1933.
  • Miền Bắc: năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập ở Hà Nội, tôn thiền sư Thanh Hanh làm Thiền gia Pháp chủ, chọn chùa Quán Sứ làm trụ sở. Hội ra báo Đuốc Tuệ năm 1935. Năm 1942, chùa Quán Sứ được xây lại theo thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng, như ta thấy ngày nay.

Phong trào quy tụ nhiều trí thức lớn như Trần Trọng Kim, Thiều Chửu, Bùi Kỷ. Những nhà Nho từng xa đạo Phật nay quay lại nghiên cứu, viết sách, dịch kinh.

Kinh sách bằng tiếng Việt và trường Phật học

Một thành quả lớn của phong trào là đưa giáo lý đến gần người Việt bằng chính tiếng mẹ đẻ. Báo chí Phật giáo ra đời ở cả ba miền. Nhiều sách nhập môn được soạn bằng chữ Quốc ngữ. Các bộ kinh lớn như Kim Cang, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm lần lượt được dịch ra tiếng Việt. Năm 1932, ông Đoàn Trung Còn lập nhà xuất bản Phật học Tùng thư.

Các trường Phật học được mở ở những chùa lớn khắp ba miền, đào tạo một thế hệ tăng ni mới, vừa vững giáo lý vừa hiểu thời cuộc. Nhiều vị về sau trở thành những bậc thầy lớn của Phật giáo Việt Nam. Những bản kinh tụng tiếng Việt quen thuộc ở chùa hôm nay cũng tiếp nối tinh thần ấy: để người tụng hiểu được lời mình đang tụng.

Gia đình Phật tử

Chánh điện chùa Từ Đàm mái ngói đỏ, phía trước là bậc thềm và sân gạch rộng
Chùa Từ Đàm ở Huế, nơi Gia đình Phật tử đặt trụ sở và nơi họp đại hội năm 1951.

Ở Huế, năm 1943, Gia đình Phật Hóa Phổ ra đời, do cư sĩ Lê Đình Thám cùng một số cư sĩ ở Huế lập ra. Đây là nơi sinh hoạt cho thanh thiếu niên, vừa vui chơi vừa học đạo. Năm 1951, tổ chức đổi tên là Gia đình Phật tử và đặt trụ sở tại chùa Từ Đàm. Đến nay, Gia đình Phật tử vẫn là nơi nhiều thế hệ thiếu niên Việt lớn lên cùng đạo Phật.

Tổng hội Phật giáo Việt Nam năm 1951

Trong những năm 1940, các hội ở ba miền đổi tên, mở rộng, và đến năm 1951 thì có sáu tổ chức lớn: mỗi miền một tổ chức của tăng sĩ và một tổ chức của cư sĩ. Năm 1951, đại biểu sáu tổ chức ấy họp tại chùa Từ Đàm, thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm hội trưởng. Lần đầu tiên, Phật giáo ba miền có một tổ chức chung. Dù Tổng hội chưa có quyền điều hành và các hội vẫn hoạt động riêng, đó là bước khởi đầu cho việc thống nhất Phật giáo về sau.

Di sản của phong trào

Chỉ trong khoảng ba mươi năm, phong trào chấn hưng đã thay đổi diện mạo đạo Phật Việt Nam:

  • Giáo lý đến với mọi người qua sách báo và kinh tụng bằng tiếng Việt.
  • Tăng ni được đào tạo bài bản trong các trường Phật học.
  • Cư sĩ có chỗ đứng, cùng tăng ni gánh vác Phật sự.
  • Thanh thiếu niên có nơi sinh hoạt trong Gia đình Phật tử.

Ghé chùa Quán Sứ ở Hà Nội hay chùa Từ Đàm ở Huế là ghé hai nơi gắn bó với phong trào này.

Đọc tiếp