Phật giáo Việt Nam · Di sản

Văn học Phật giáo thời Lý và Trần

Văn học Phật giáo thời Lý và Trần là những bài kệ, bài thơ, sách thiền do các thiền sư và các vị vua sùng đạo viết ra, và cũng là những trang đầu tiên của văn học viết Việt Nam. Từ những bài kệ chữ Hán ngắn gọn thời Lý đến bài phú chữ Nôm của Phật hoàng Trần Nhân Tông, dòng văn này vừa dạy đạo, vừa là thơ hay của dân tộc.

Thời Lý: nhà sư cầm bút

Thời Lý, văn chương viết bằng chữ Hán, nên chỉ vua, quan và nhà sư mới đủ chữ để sáng tác. Các vị tăng thời ấy học rộng, giỏi Hán học. Khi nhà Nho còn ít, triều đình thường mời các bậc cao tăng giúp việc nước (xem bài Phật giáo thời Đinh, Tiền Lê và Lý).

Vì vậy, trên văn đàn thời Lý, nhà sư chiếm đa số. Có hơn 40 nhà sư để lại tác phẩm, tiêu biểu như Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm.

Từ trước đó, thời Tiền Lê, bài thơ Quốc tộ của thiền sư Pháp Thuận đã được xem là tác phẩm mở đầu của văn học viết Việt Nam. Sang thời Lý, thể văn tiêu biểu là bài kệ. Giáo lý nhà Phật vốn sâu xa, khó hiểu. Các thiền sư gói ý ấy vào những bài kệ ngắn, sinh động, dễ nhớ, để người học đạo mang theo bên mình. Nhiều bài đến nay vẫn được truyền tụng:

  • Thị đệ tử của thiền sư Vạn Hạnh: thân người như bóng chớp, có rồi lại không; thịnh suy như giọt sương đầu ngọn cỏ, chẳng có gì phải sợ.
  • Cáo tật thị chúng của thiền sư Mãn Giác: xuân qua trăm hoa rụng, xuân đến trăm hoa nở; đừng tưởng xuân tàn là hoa rụng hết, đêm qua trước sân một cành mai vừa nở (xem bài Thiền phái Vô Ngôn Thông và Thảo Đường).

Bài kệ của ni sư Diệu Nhân

Văn học Phật giáo thời Lý còn có tiếng nói của một vị ni. Ni sư Diệu Nhân (1042–1113), tên thật là Lý Ngọc Kiều, là cháu gái vua Lý Thánh Tông, được nuôi trong cung từ nhỏ. Chồng mất, bà đem hết đồ trang sức cho người khác rồi xin xuất gia, tu ở ni viện Hương Hải, làng Phù Đổng. Bà đứng đầu thế hệ thứ mười bảy của thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi.

Năm 1113, lúc lâm bệnh, ni sư gọi đồ chúng đến và đọc một bài kệ bốn chữ. Đại ý: sinh, già, bệnh, chết xưa nay vẫn thế. Càng muốn tìm đường thoát ra, càng tự trói mình thêm. Vì mê mới đi tìm Phật, vì lầm mới đi cầu thiền. Khi không còn tìm Phật, cầu thiền nữa, thì chẳng còn gì phải nói. Đọc xong, bà tắm gội, ngồi kiết già mà viên tịch.

Bài kệ ngắn mà mạnh mẽ, nhắc người học đạo đừng chạy tìm đâu xa, hãy quay về với chính mình.

Thiền uyển tập anh

Nhiều bài kệ thời Lý còn đến ngày nay là nhờ bộ Thiền uyển tập anh. Sách được biên soạn vào thời Trần, chép tiểu sử, lời dạy và bài kệ của các thiền sư thuộc các dòng thiền ở nước ta, từ thời Bắc thuộc đến thời Lý. Đây là tài liệu cổ nhất về lịch sử Phật giáo Việt Nam còn giữ được (xem bài Phật giáo du nhập vào Việt Nam).

Thời Trần: những vị vua viết sách thiền

Sang thời Trần, các vị vua trở thành những tác giả Phật giáo lớn.

Trần Thái Tông (1218–1277), vị vua đầu tiên của nhà Trần, viết Thiền tông chỉ nam khi còn trị vì. Sau khi nhường ngôi, ông viết thêm nhiều sách dạy đạo:

  • Khóa hư lục, gồm nhiều bài giảng. Trong đó có bài nói rộng về thân người, giảng rằng thân này vô thường, giả tạm, không ai tránh khỏi cái chết.
  • Lục thì sám hối khoa nghi, nghi thức sám hối sáu thời trong một ngày, để chuyển ác thành thiện.
  • Bình đẳng lễ sám văn, cùng một số bài giảng về ngồi thiền và niệm Phật.

Tuệ Trung Thượng Sĩ, người thầy của vua Trần Nhân Tông, còn để lại 49 bài thơ trong bộ Thượng sĩ ngữ lục.

Trần Nhân Tông (1258–1308) viết cả chữ Hán lẫn chữ Nôm. Từ đời ngài, chữ Nôm bắt đầu được dùng rộng rãi trong thơ văn. Bài phú Cư trần lạc đạo và bài ca Đắc thú lâm tuyền thành đạo đều viết bằng chữ Nôm. Bài kệ cuối bài phú khuyên sống giữa đời mà vui với đạo; trước mọi cảnh mà tâm không vướng mắc thì chẳng cần hỏi thiền là gì (xem bài Thiền). Ngài còn có những bài thơ tả cảnh quê rất đẹp, như Thiên Trường vãn vọng (xem bài Phật hoàng Trần Nhân Tông).

Sau khi Phật hoàng viên tịch, Tổ Pháp Loa biên soạn kệ tụng và lời dạy của thầy thành sách Thạch thất mị ngữ. Tổ thứ ba Huyền Quang, vốn đỗ trạng nguyên trước khi xuất gia, được xem là một nhà thơ lớn, thơ ông còn lưu lại nhiều bài. Những năm cuối đời, ông giáo hóa ở Côn Sơn và viên tịch tại đây năm 1334.

Đọc lại hôm nay

Văn học Phật giáo Lý – Trần có một tinh thần chung: thiền không ở đâu xa. Thấy vô thường mà không sợ hãi, như bài kệ của Vạn Hạnh. Giữa lúc xuân tàn vẫn thấy một cành mai nở, như bài kệ của Mãn Giác. Sống giữa đời mà vẫn vui với đạo, như bài phú của Trần Nhân Tông. Tinh thần ấy kết tinh trong thiền phái Trúc Lâm.

Muốn đọc thơ thiền, không cần đọc nhiều. Chọn một bài kệ ngắn, đọc chậm vài lần, rồi ngồi yên ít phút với Thiền tĩnh tâm để ý thơ thấm dần.

Thực hành

Đọc tiếp