
Phật giáo Việt Nam · Truyền thừa
Lâm Tế, Tào Động và dòng Liễu Quán
Lâm Tế và Tào Động là hai dòng thiền lớn từ Trung Hoa truyền sang nước ta vào thế kỷ 17, khi đạo Phật phục hưng ở cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Trong. Từ dòng Lâm Tế, thiền sư Liễu Quán, người Phú Yên, lập nên một dòng thiền mang tên Ngài. Phần lớn các chùa Bắc tông ở miền Trung và miền Nam ngày nay thuộc những dòng truyền thừa này.
Hai dòng thiền còn sống đến hôm nay
Thiền tông Trung Hoa từng chia thành năm nhà, bảy tông. Đến nay chỉ còn hai tông được truyền thừa liên tục ở Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam:
- Lâm Tế, do thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (?–866) khai lập. Tông này nổi tiếng với lối dạy mạnh mẽ, dùng tiếng hét, cú đánh và những câu hỏi khó nghĩ, gọi là công án hay thoại đầu, để đánh thức người học.
- Tào Động, do hai thiền sư Động Sơn Lương Giới (807–869) và Tào Sơn Bản Tịch (840–901) khai lập. Tông này chú trọng lối thiền lặng lẽ soi chiếu, ngồi yên mà sáng suốt.
Lâm Tế ở Đàng Ngoài
Tư tưởng Lâm Tế đã đến nước ta từ thời Trần qua các bộ ngữ lục, và ảnh hưởng tới vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ. Nhưng phải đến thế kỷ 17, dòng Lâm Tế mới được truyền trực tiếp.
Ở Đàng Ngoài, hòa thượng Chuyết Chuyết (1590–1644), người Phúc Kiến, sang trụ trì chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh. Ngài và đệ tử Minh Hành gây dựng một trung tâm thiền học lớn. Cuối thế kỷ 17, thiền sư Chân Nguyên, cũng thuộc dòng Lâm Tế, có công phục hưng Thiền phái Trúc Lâm của thời Trần.
Tào Động ở Đàng Ngoài
Năm 1664, thiền sư Thông Giác Thủy Nguyệt sang Trung Hoa cầu đạo. Ngài tu học với thiền sư Nhất Cú Trí Giáo, đời thứ ba mươi tông Tào Động, ở tỉnh Chiết Giang. Sau vài năm, ngài ngộ đạo và được nối pháp.
Về nước, ngài truyền đạo ở chùa Hạ Long (Quảng Ninh) và chùa Nhẫm Dương (Hải Dương cũ). Từ đó dòng Tào Động phát triển ở Đàng Ngoài. Nhiều chùa ở Hà Nội như chùa Trấn Quốc được xem là thuộc truyền thừa dòng thiền này.
Ở Đàng Trong, thiền sư Thạch Liêm, một danh tăng Tào Động, được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang và rất được kính trọng.
Lâm Tế ở Đàng Trong
Các chúa Nguyễn mời nhiều cao tăng Trung Hoa sang truyền giới, tổ chức giới đàn. Một phần quan trọng các tổ đình ở miền Trung do các ngài khai lập:
- Thiền sư Nguyên Thiều, người Triều Châu, Quảng Đông, sang Đàng Trong năm 1677. Ngài lập chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định và chùa Quốc Ân ở Huế, mở ra các dòng truyền thừa Thập Tháp và Quốc Ân.
- Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung, khai sơn chùa Ấn Tôn, nay là chùa Từ Đàm ở Huế.
- Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, lập chùa Chúc Thánh ở Quảng Nam, mở ra dòng Chúc Thánh.
Thiền sư Liễu Quán
Thiền sư Liễu Quán (1667–1742) người Phú Yên. Từ năm 1699, ngài đi khắp các chùa ở Đàng Trong tham học. Năm 1702, ngài tìm đến chùa Ấn Tôn xin học với thiền sư Tử Dung. Thiền sư trao cho ngài một công án để tham cứu.
Ngài mang công án ấy về tu suốt bảy, tám năm, rồi một hôm chợt tỏ ngộ yếu chỉ của thiền. Năm 1708, ngài trở lại chùa Ấn Tôn trình chỗ thấy biết của mình và được thầy khen. Sau đó ngài lập am tranh trong rừng thông trên núi Thiên Thai ở Huế, nơi về sau thành chùa Thiền Tôn. Năm 1712, ngài được thiền sư Tử Dung ấn chứng, nối pháp đời thứ 35 tông Lâm Tế (xem bài Thiền sư Liễu Quán).

Dòng thiền Liễu Quán là lần thứ hai trong lịch sử, sau Trúc Lâm thời Trần, Việt Nam có một dòng thiền lớn do một vị tổ người Việt khai lập. Ngày nay, hàng trăm ngôi chùa ở Huế và rất nhiều chùa ở miền Trung, miền Nam thuộc dòng Liễu Quán.
Dòng kệ và pháp danh
Mỗi dòng truyền thừa có một bài kệ riêng. Mỗi chữ trong bài kệ dùng làm chữ đầu pháp danh cho một đời đệ tử, đời sau dùng chữ kế tiếp. Vì vậy, nhìn pháp danh của một vị thầy, người trong đạo có thể biết vị ấy thuộc dòng nào, đời thứ mấy. Cách này giúp các dòng thiền giữ được mạch truyền thừa qua nhiều thế kỷ.
Viếng các tổ đình
- Huế: chùa Từ Đàm, chùa Thiền Tôn, chùa Quốc Ân, cùng các tổ đình quanh chùa Thiên Mụ.
- Bình Định: chùa Thập Tháp Di Đà, tổ đình của dòng Nguyên Thiều.
- Bắc Ninh, Hà Nội: chùa Bút Tháp, chùa Trấn Quốc.