Phật giáo Việt Nam · Danh nhân

Thiền sư Liễu Quán

Thiền sư Liễu Quán (1667–1742) là vị tổ người Việt của một dòng thiền lớn ở Đàng Trong, dòng Liễu Quán, đến nay vẫn nối tiếp ở rất nhiều chùa miền Trung và miền Nam. Cuộc đời ngài là tấm gương của lòng hiếu thảo, sự kiên trì tham thiền, và tinh thần giản dị không màng danh lợi.

Cậu bé mồ côi ở Phú Yên

Theo văn bia do nhà sư Thiện Kế soạn năm 1748, ngài sinh năm 1667 ở làng Bạch Mã, huyện Đồng Xuân, Phú Yên (nay thuộc Đắk Lắk), họ Lê. Thiệt Diệu là pháp danh, Liễu Quán là tên tự.

Ngài mồ côi mẹ năm sáu tuổi. Năm mười hai tuổi, cha đưa ngài đến chùa Hội Tôn ở Phú Yên lễ Phật. Gặp thiền sư Tế Viên, ngài quý mến và xin ở lại chùa học đạo. Bảy năm sau thầy mất, ngài ra Thuận Hóa (Huế) học với thiền sư Giác Phong ở chùa Hàm Long, sau là chùa Báo Quốc.

Kiếm củi nuôi cha

Mới được một năm, năm 1691, ngài phải trở về quê phụng dưỡng cha già. Ngài làm nghề kiếm củi để sống qua ngày và lo thuốc thang cho cha. Bốn năm sau cha mất, ngài mới trở lại Thuận Hóa tiếp tục con đường tu học.

Một người con đã xuất gia vẫn quay về chăm cha bằng đôi tay kiếm củi: đó là hiếu đạo theo đúng tinh thần đạo Phật (xem bài Hiếu đạo).

Năm 1695, ngài thọ giới sa-di với thiền sư Thạch Liêm. Năm 1697, ngài thọ giới cụ túc với thiền sư Từ Lâm.

Bảy năm với một câu hỏi

Từ năm 1699, ngài đi khắp các chùa ở Đàng Trong tham học. Năm 1702, ngài tìm đến chùa Ấn Tôn, nay là chùa Từ Đàm ở Huế, xin học với thiền sư Minh Hoằng Tử Dung của tông Lâm Tế. Thiền sư trao cho ngài một câu để tham cứu:

Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?

Nghĩa là: muôn pháp quy về một, vậy một quy về đâu?

Ngài mang câu hỏi ấy theo mình bảy, tám năm mà chưa thấu, trong lòng tự thấy hổ thẹn. Một hôm, đọc sách Truyền đăng lục đến câu "Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ", tức chỉ vật mà truyền tâm, chỗ người ta không hiểu được, ngài bỗng tỏ ngộ.

Sớm biết đèn là lửa

Năm 1708, ngài trở lại chùa Ấn Tôn trình chỗ ngộ. Thiền sư Tử Dung đọc mấy câu thử ngài. Ngài vỗ tay cười lớn; thầy bảo chưa phải. Ngài nói thêm một câu; thầy lại bảo chưa phải. Sáng hôm sau, thầy gọi ngài lại hỏi tiếp. Ngài thưa:

Tảo tri đăng thị hỏa,
Thực thục dĩ đa thì.

Đại ý: nếu sớm biết đèn vốn là lửa, thì cơm đã chín từ lâu rồi. Điều mình tìm kiếm vẫn ở ngay đó từ đầu, chỉ là mình chưa nhận ra. Thiền sư Tử Dung hết lời khen ngợi.

Sau đó, ngài lập am tranh trong rừng thông trên núi Thiên Thai ở Huế, nơi về sau thành chùa Thiền Tôn. Năm 1712, trong một lần đối đáp khác, ngài được thiền sư Tử Dung ấn chứng, nối pháp đời thứ ba mươi lăm tông Lâm Tế.

Không màng danh lợi

Từ năm 1708, ngài đi giảng đạo từ Phú Yên đến Phú Xuân, không nề khó nhọc. Năm 1722, ngài về trụ ở chùa Thiền Tôn. Những năm 1733–1735, chư tăng và cư sĩ ở Thuận Hóa thỉnh ngài dự bốn đại giới đàn; năm 1740, ngài làm chủ tọa giới đàn Long Hoa. Chúa Nguyễn Phúc Chú kính trọng đạo hạnh của ngài, nhiều lần mời vào phủ. Nhưng theo văn bia, ngài đều từ chối, vì muốn "giữ chí lâm tuyền", sống giữa núi rừng.

Mùa xuân năm 1742, đã ngoài bảy mươi tuổi, ngài vẫn làm chủ lễ giới đàn ở chùa Viên Thông. Người đến thọ giới, cả xuất gia lẫn tại gia, có tới gần bốn nghìn người.

Bài kệ từ biệt

Cuối năm ấy, biết mình sắp đi, ngài bảo đệ tử đừng khóc, vì chư Phật ra đời rồi cũng nhập Niết-bàn. Vài ngày trước khi tịch, ngài ngồi ngay ngắn, tự tay viết bài kệ:

Thất thập dư niên thế giới trung,
Không không sắc sắc diệc dung thông.
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý,
Hà tất bôn man vấn tổ tông.

Đại ý: hơn bảy mươi năm sống giữa cõi đời, không và sắc vốn đã dung thông. Sáng nay nguyện đã tròn, xin về quê cũ; hà tất phải vội vã hỏi chuyện tổ tông. Ngài dặn lại học trò: vô thường mau chóng, hãy siêng năng tu học trí tuệ Bát-nhã.

Ngày 22 tháng 11 âm lịch năm 1742, ngài an nhiên ra đi. Chúa Nguyễn Phúc Khoát cho lập bia và ban thụy hiệu Chính Giác Viên Ngộ Hòa thượng.

Khu mộ tháp thiền sư Liễu Quán: tháp đá nhiều tầng trong sân lát đá, tường thấp bao quanh, phía sau có cổng nhỏ
Mộ tháp thiền sư Liễu Quán trên núi Thiên Thai, Huế.

Di sản

Dòng thiền Liễu Quán là lần thứ hai trong lịch sử, sau Trúc Lâm thời Trần, Việt Nam có một dòng thiền lớn do vị tổ người Việt khai lập. Nhiều ngôi chùa ở Huế, miền Trung và miền Nam ngày nay vẫn thuộc dòng kệ của ngài (xem bài Lâm Tế, Tào Động và dòng Liễu Quán).

Bài học từ cuộc đời ngài rất gần với người hôm nay: hiếu thảo với cha mẹ, kiên nhẫn với con đường tu tập dù nhiều năm chưa thấy kết quả, và sống giản dị, không chạy theo danh vọng.

Đọc tiếp