Phật giáo Việt Nam · Danh nhân

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thiền sư Thích Nhất Hạnh (1926–2022) là người đã đưa những cách thực tập chánh niệm giản dị, như theo dõi hơi thở, đi thiền và ăn trong chánh niệm, đến với rất nhiều người trên thế giới. Ngài lập tu viện Làng Mai ở Pháp, và là tác giả "Bông hồng cài áo", áng văn đã thành nghi thức quen thuộc mỗi mùa Vu Lan.

Chú tiểu chùa Từ Hiếu

Ngài sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926 ở Thừa Thiên, thế danh Nguyễn Xuân Bảo. Theo lời ngài kể, năm bảy, tám tuổi, nhìn một bức tranh Đức Phật ngồi thiền trên cỏ, cậu bé thấy lòng an bình lạ thường. Năm mười hai tuổi, cậu phát nguyện đi tu và được cha mẹ đồng ý.

Năm mười sáu tuổi, ngài xuất gia ở chùa Từ Hiếu, Huế, với Hòa thượng Thanh Quý Chân Thật. Pháp hiệu Nhất Hạnh, nối pháp đời thứ bốn mươi hai tông Lâm Tế, thuộc dòng Liễu Quán. Ngài làm chú tiểu ở Từ Hiếu ba năm, rồi theo học Phật học viện Báo Quốc.

Năm 1950, ngài vào Sài Gòn, góp sức dựng chùa Ấn Quang, và thọ giới tỳ-kheo ở đây năm 1951. Từ năm 1960, ngài sang Mỹ học và giảng dạy về tôn giáo ở các đại học Princeton và Columbia.

Đạo Phật đi vào cuộc đời

Cuối năm 1963, ngài trở về Việt Nam. Ngài góp phần lập Viện Đại học Vạn Hạnh, và năm 1964 cùng lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Các tình nguyện viên của trường về những làng bị bom đạn tàn phá, dựng lại làng, mở trường học và trạm xá (xem bài Phật giáo Việt Nam hiện đại).

Khoảng năm 1964–1966, ngài lập dòng tu Tiếp Hiện cho cả người xuất gia lẫn tại gia. "Tiếp" là tiếp xúc, tiếp nối; "Hiện" là hiện tại, thực hiện. Dòng tu thực tập Năm giới tân tu và Mười bốn giới Tiếp Hiện. Ngày 1 tháng 5 năm 1966, tại chùa Từ Hiếu, ngài được thầy là Hòa thượng Chân Thật truyền đăng, chính thức trở thành giáo thọ.

Ngài là người đưa ra khái niệm Phật giáo dấn thân, trong một cuốn sách viết năm 1967: thực tập chánh niệm đi đôi với hành động từ bi giữa xã hội.

Gần bốn mươi năm xa quê

Năm 1966, ngài sang Mỹ kêu gọi hòa bình cho Việt Nam. Năm 1967, mục sư Martin Luther King đề cử ngài cho giải Nobel Hòa bình, gọi ngài là "một tông đồ của hòa bình và bất bạo động". Từ đó, ngài sống ở nước ngoài gần bốn mươi năm.

Năm 1975, ngài viết cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức, vốn để giúp các tác viên xã hội ở Việt Nam, những người ngày nào cũng đối mặt với hiểm nguy, giữ được chánh niệm.

Năm 1982, ngài cùng sư cô Chân Không lập Làng Mai ở miền tây nam nước Pháp. Ban đầu nơi ấy tên là Làng Hồng, vì trồng nhiều cây hồng ăn trái; sau thấy cây mận hợp đất nên đổi tên là Làng Mai. Dần dần, các tu viện theo truyền thống Làng Mai mọc lên ở nhiều nước, như Mỹ, Đức, Thái Lan, Úc. Ngài viết hơn một trăm cuốn sách, được dịch ra hơn bốn mươi thứ tiếng.

Thực tập chánh niệm

Thiền sư Nhất Hạnh mặc áo nâu, chắp tay, cầm nón lá trước ngực, cùng các vị xuất gia đi giữa hai hàng Phật tử đang cúi chào
Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong chuyến về Việt Nam năm 2007.

Những cách thực tập ngài dạy đều gần với đời sống hằng ngày:

  • Thở trong chánh niệm: để tâm vào hơi thở vào, hơi thở ra. Hơi thở là chỗ dựa vững chãi để tâm trở về.
  • Đi thiền: bước thật chậm, cảm nhận bàn chân tiếp xúc với mặt đất, mỗi bước đi theo hơi thở.
  • Ngồi thiền: ngồi thoải mái, theo dõi hơi thở, nhận biết cảm xúc. Ngồi chỉ để tận hưởng việc ngồi.
  • Ăn trong chánh niệm: ăn chậm, nhai kỹ, biết ơn từng miếng ăn.
  • Thư giãn: nằm xuống, buông lỏng từng phần cơ thể.

Bông hồng cài áo

Năm 1962, khi đang ở Mỹ, ngài viết áng văn ngắn Bông hồng cài áo. Ý tưởng đến từ một lần ở Tokyo vào Ngày của Mẹ: ngài được cài lên áo một bông cẩm chướng trắng, và được biết người còn mẹ thì cài hoa màu hồng, người mất mẹ thì cài hoa màu trắng.

Bài văn được gửi về cho sinh viên Phật tử ở Sài Gòn chép tay truyền nhau đọc, rồi được nhà xuất bản Lá Bối in thành sách năm 1964. Năm 1967, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ phổ thành bài hát cùng tên. Ngày nay, nghi thức cài hoa đã thành một phần của lễ Vu Lan ở nhiều ngôi chùa (xem bài Hiếu đạo).

Trở về Từ Hiếu

Năm 2005, ngài được về thăm Việt Nam lần đầu sau gần bốn mươi năm, trong đó có chuyến về lại chùa Từ Hiếu, nơi ngài xuất gia. Năm 2007, ngài trở về lần nữa, tổ chức ba đại trai đàn ở ba miền, cầu nguyện cho tất cả những ai đã chịu khổ đau vì chiến tranh, không phân biệt tôn giáo, chính kiến hay chủng tộc.

Năm 2014, ngài bị xuất huyết não. Cuối năm 2018, ngài về chùa Từ Hiếu, ở đó cho đến cuối đời. Ngài viên tịch tại chùa ngày 22 tháng 1 năm 2022, thọ chín mươi lăm tuổi. Tro cốt của ngài được rải ở chùa Từ Hiếu và các tu viện Làng Mai.

Ngài từng dặn: nếu học trò vẫn muốn xây tháp cho ngài, thì hãy ghi lên đó rằng ngài không có ở trong này, mà cũng không ở ngoài kia; có thể tìm thấy ngài trong cách người ta thở và bước đi. Vài hơi thở chánh niệm với Thiền tĩnh tâm là một cách gần gũi để gặp lại ngài.

Thực hành

Đọc tiếp