Phật học căn bản
Hiếu đạo
Hiếu đạo là đạo làm con: biết ơn, chăm sóc và báo đáp công ơn cha mẹ. Trong Phật giáo Việt Nam, chữ hiếu được đặt rất cao, đến mức mùa Vu Lan tháng Bảy còn được gọi là mùa báo hiếu.
Biết ơn là dấu hiệu của người tốt
Trong một bài kinh ngắn (AN 2.32), Đức Phật dạy rằng người xấu thì vô ơn, còn người tốt thì biết ơn và nhớ ơn. Biết ơn là phẩm chất đầu tiên. Có biết ơn thì mới muốn đền ơn, và ơn đầu tiên trong đời mỗi người là ơn cha mẹ.
Ơn cha mẹ khó đền
Bài kinh kế đó (AN 2.33) có một hình ảnh rất mạnh. Dù một người cõng mẹ trên một vai, cõng cha trên vai kia suốt một trăm năm, tắm rửa, xoa bóp, chăm sóc cha mẹ cả khi cha mẹ phải đại tiểu tiện ngay trên vai mình, vẫn chưa đền đủ ơn. Dù đặt cha mẹ lên ngôi vua cả cõi đất đầy châu báu, cũng chưa đủ. Vì cha mẹ đã nuôi nấng, dưỡng dục, và chỉ cho con thấy cuộc đời này.
Nhưng kinh nói tiếp: ai giúp cha mẹ chưa có niềm tin vào điều lành có được niềm tin, giúp cha mẹ chưa giữ giới biết giữ giới, giúp cha mẹ còn keo kiệt biết bố thí, giúp cha mẹ còn mê mờ có được trí tuệ, thì người ấy đã đền ơn đầy đủ, hơn cả đầy đủ.
Đó là chỗ sâu của hiếu đạo theo Phật giáo. Phụng dưỡng cha mẹ là hiếu. Giúp cha mẹ sống an lành và hướng thiện là hiếu lớn hơn nữa.
Bổn phận của người con
Kinh Siṅgāla (DN 31) kể năm việc người con nên làm cho cha mẹ, đại ý:
- Nuôi lại cha mẹ, như xưa cha mẹ đã nuôi mình.
- Làm tròn bổn phận với cha mẹ, gánh đỡ việc nhà.
- Giữ gìn nề nếp gia đình và danh dự dòng họ.
- Sống cho xứng đáng với những gì cha mẹ để lại.
- Khi cha mẹ mất, làm việc lành hồi hướng cho cha mẹ.
Kinh cũng kể năm việc cha mẹ làm cho con. Hai bên cùng thương, cùng có bổn phận với nhau (xem Phật pháp trong gia đình).
Hiếu đạo trong truyền thống Bắc tông
- Kinh Vu Lan. Kinh kể chuyện ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông tìm mẹ, thấy mẹ khổ ở cõi ngạ quỷ, rồi nhờ sức chú nguyện của chư Tăng mà cứu được mẹ. Từ đó có Lễ Vu Lan rằm tháng Bảy. Nghi thức Kinh Vu Lan trong app có cả Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu.
- Kinh Địa Tạng. Bồ Tát Địa Tạng có hai đời trước là người con gái hiếu thảo, tìm mọi cách cứu mẹ đã mất, rồi phát nguyện cứu khổ cho tất cả chúng sinh. Vì vậy Kinh Địa Tạng được người Việt gọi là kinh hiếu.
- Kinh Phụ Mẫu Ân Trọng. Kinh này được soạn ở Trung Hoa, phổ biến từ khoảng đời Đường. Kinh kể tỉ mỉ công ơn mang nặng đẻ đau, bú mớm, nuôi nấng của cha mẹ, và rất được yêu thích ở chùa Việt.
Hiếu với cha mẹ còn sống
- Có mặt: thăm cha mẹ, hay gọi điện thường xuyên. Với người già, thời gian con ngồi bên cạnh quý hơn quà cáp.
- Lắng nghe: cha mẹ kể lại chuyện cũ lần thứ mười, vẫn nghe như lần đầu.
- Kiên nhẫn: cha mẹ già chậm, quên, hay lo. Nói năng nhẹ nhàng, không gắt gỏng.
- Chăm khi ốm đau: đưa cha mẹ đi khám, nhắc thuốc, nấu một bữa cơm hợp sức khỏe.
- Giúp cha mẹ hướng thiện, nhẹ nhàng: mời cha mẹ cùng đi chùa, cùng tụng một thời kinh, cùng làm một việc thiện, nếu cha mẹ muốn. Không ép, không giảng giải.
- Nói lời cảm ơn: người Việt ngại nói, nhưng một lời "con cảm ơn ba mẹ" có thể làm cha mẹ vui cả tháng.
Hiếu với cha mẹ đã khuất
Người Việt thờ cúng ông bà, giữ ngày giỗ. Nếp ấy hợp với lời kinh Siṅgāla: khi cha mẹ mất, người con làm việc lành để hồi hướng. Có thể tụng kinh, niệm Phật, bố thí, giúp người nghèo nhân danh cha mẹ.
Nhưng cách nhớ ơn đẹp nhất vẫn là sống tốt. Mỗi điều lành mình làm là tiếp nối những gì cha mẹ đã dạy.
Khi tình cha con, mẹ con không dễ dàng
Không phải gia đình nào cũng êm ấm. Có cha mẹ khó tính, có khi làm con tổn thương sâu. Hiếu thảo lúc ấy là giữ lòng thương, giữ lời nói đúng mực, không để oán hận lớn lên trong lòng. Nếu bị làm hại, giữ an toàn cho mình và tìm người giúp đỡ cũng là điều nên làm. Tha thứ cần thời gian. Hiểu rằng cha mẹ cũng mang những nỗi khổ của riêng họ là bước đầu của tha thứ.