Phật giáo Việt Nam · Danh nhân

Hòa thượng Thích Quảng Đức

Hòa thượng Thích Quảng Đức (1897–1963) là vị sư đã dành gần trọn đời mình để tu tập, giảng pháp và dựng chùa, rồi tự thiêu ngày 11 tháng 6 năm 1963 tại Sài Gòn để kêu gọi bình đẳng tôn giáo. Phật tử Việt Nam tôn kính ngài là Bồ Tát Thích Quảng Đức.

Xuất gia từ năm bảy tuổi

Ngài sinh năm 1897 ở làng Hội Khánh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, trong một gia đình có bảy anh chị em. Năm bảy tuổi, ngài theo Hòa thượng Hoằng Thâm, vừa là thầy vừa là cậu ruột, xuất gia học đạo. Năm mười lăm tuổi ngài thọ giới sa-di, năm hai mươi tuổi thọ giới tỳ-kheo, pháp hiệu Quảng Đức, thuộc dòng thiền Lâm Tế.

Thọ giới xong, ngài lên một ngọn núi gần Ninh Hòa, phát nguyện tu một mình ba năm. Về sau ngài trở lại chính nơi ấy dựng chùa Thiên Lộc.

Tiểu sử của ngài chủ yếu do các tổ chức Phật giáo ghi lại.

Ba mươi mốt ngôi chùa

Hết ba năm ẩn tu, ngài đi khắp miền Trung giảng pháp. Năm 1932, ngài được cử làm kiểm tăng ở Ninh Hòa, rồi kiểm tăng cả tỉnh Khánh Hòa. Những năm ở miền Trung, ngài dựng mới và trùng tu mười bốn ngôi chùa.

Năm 1934, ngài vào miền Nam hoằng pháp. Ngài cũng sang Campuchia hai năm để học kinh điển theo truyền thống Nam tông. Hai mươi năm ở miền Nam, ngài dựng và trùng tu thêm mười bảy ngôi chùa, cả thảy ba mươi mốt ngôi.

Ngôi chùa cuối cùng ngài trụ trì là chùa Quan Thế Âm ở Phú Nhuận, Gia Định. Con đường trước chùa nay mang tên ngài. Ngài từng làm trưởng ban nghi lễ của Giáo hội Tăng già Nam Việt, và trụ trì chùa Phước Hòa, trụ sở đầu tiên của Hội Phật học Nam Việt. Khi hội dời trụ sở về chùa Xá Lợi, ngài xin thôi để chuyên tâm tu niệm.

Mùa Phật đản năm 1963

Đầu tháng 5 năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm cấm treo cờ tôn giáo nơi công cộng. Ngày Phật đản ở Huế, nhiều Phật tử thiệt mạng trước đài phát thanh. Các vị lãnh đạo Phật giáo nêu năm nguyện vọng, đòi được treo cờ Phật giáo và được bình đẳng tôn giáo (xem bài Phật giáo Việt Nam hiện đại).

Theo sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, ngày 27 tháng 5, ngài viết thư gửi Giáo hội Tăng già Toàn quốc, xin tự thiêu để phản đối chính sách của chính quyền. Giáo hội không chấp thuận.

Ngày 11 tháng 6 năm 1963

Sáng hôm ấy, khoảng ba trăm năm mươi tăng ni diễu hành trên đường phố Sài Gòn, dẫn đầu là chiếc xe chở ngài. Đến ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, nay là ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – Cách Mạng Tháng Tám, ngài bước xuống xe, ngồi kiết già giữa đường, lần chuỗi niệm "Nam mô A Di Đà Phật", rồi tự thiêu. Nhiều người chứng kiến quỳ lạy.

Trong lá thư để lại, ngài tha thiết xin Tổng thống Ngô Đình Diệm mở lòng từ bi với dân, thực thi bình đẳng tôn giáo, và kêu gọi tăng ni, Phật tử đoàn kết để bảo vệ Phật pháp.

Tấm ảnh nhà báo Malcolm Browne chụp hôm ấy được truyền đi khắp thế giới, khiến thế giới đặc biệt chú ý đến chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm đối với Phật giáo.

Trái tim xá lợi

Kim quan của ngài được đưa về chùa Xá Lợi. Các tài liệu kể rằng khi hỏa táng lại, trái tim ngài không cháy. Trái tim ấy được đặt trong một chiếc ly thủy tinh tại chùa Xá Lợi. Phật tử xem đó là biểu tượng của lòng từ bi, và từ đó tôn ngài là Bồ Tát.

Tưởng nhớ ngài hôm nay

Ngày nay, ở góc ngã tư nơi ngài tự thiêu có một đài tưởng niệm. Chiếc xe Austin đưa ngài đi hôm ấy được giữ ở chùa Thiên Mụ, Huế.

Đó là lựa chọn của một bậc tu hành giữa một thời khắc đặc biệt của lịch sử. Tưởng nhớ ngài là nhớ đến một đời người dựng chùa, giảng pháp, và tấm lòng từ bi của ngài. Ngay trước khi đi, ngài vẫn lần chuỗi niệm danh hiệu Đức A Di Đà; một câu niệm Phật với lòng kính ngưỡng là cách gần gũi để tưởng nhớ ngài.

Thực hành

Đọc tiếp