Phật giáo Việt Nam · Danh nhân

Hòa thượng Thích Trí Tịnh

Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917–2014) là vị cao tăng đã dịch Kinh Diệu Pháp Liên Hoa và nhiều bộ kinh Đại thừa sang tiếng Việt, đồng thời là người truyền bá pháp môn niệm Phật, cầu sinh về cõi Tịnh độ. Ngài cũng là người thầy của nhiều thế hệ tăng ni miền Nam và là một trong những vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Cậu bé mồ côi ở Sa Đéc

Ngài sinh ngày 17 tháng 10 năm 1917 ở làng Mỹ An Hưng, tỉnh Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp, trong một gia đình nông dân tin Phật, thế danh Nguyễn Văn Bình. Ba tuổi ngài mất cha, bảy tuổi mất mẹ, phải sống với người anh.

Học hết lớp đệ thất năm mười lăm tuổi, cậu bé học thêm chữ Hán với người chú và học nghề thuốc Bắc với người anh họ. Sớm có ý xa lánh thế tục, chàng thanh niên tìm hiểu nhiều tôn giáo, rồi đặc biệt để tâm vào đạo Phật. Năm mười tám tuổi, ngài bắt đầu ăn chay trường.

Từ núi Cấm ra Huế

Ngài lên núi Cấm ở An Giang, xin xuất gia với Hòa thượng Thiện Quang ở chùa Lá, sau này là chùa Vạn Linh. Trong những ngày tu khổ hạnh trên núi, ngài đọc tạp chí Từ Bi Âm và phát nguyện học thêm kinh luật (xem bài Phong trào chấn hưng Phật giáo).

Cuối năm 1939, ngài xuống núi, sau đó ra Huế học ở trường Phật học chùa Tây Thiên. Đầu năm 1941, ngài thọ giới sa-di tại chùa Quốc Ân. Ngài học hết bậc trung đẳng rồi cao đẳng Phật học, tốt nghiệp năm 1945. Cùng năm ấy, ngài thọ giới tỳ-kheo tại đại giới đàn chùa Long An ở Sa Đéc.

Người thầy của nhiều thế hệ

Từ đó, ngài dành nhiều năm cho việc dạy học:

  • Năm 1945, ngài cùng thiền sư Thiện Hoa lập trường Phật học ở chùa Phật Quang, Trà Ôn.
  • Năm 1948, ngài cùng thiền sư Huyền Dung lập trường Phật học Liên Hải ở chùa Vạn Phước, Chợ Lớn.
  • Đầu những năm 1950, ngài cùng thiền sư Thiện Hòa gộp ba trường Liên Hải, Mai Sơn, Sùng Đức thành Phật học đường Nam Việt, đặt tại chùa Ấn Quang, và giảng dạy lớp cao đẳng Phật học ở đây.
  • Từ năm 1970 đến năm 1975, ngài làm khoa trưởng phân khoa Phật học của Viện Đại học Vạn Hạnh.
  • Từ năm 1971 đến năm 1991, ngài làm viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm.

Nhiều vị thầy lớn của Phật giáo Việt Nam về sau đã từng học với ngài, trong đó có Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Thiền sư Thích Thanh Từ.

Chùa Vạn Đức và pháp môn niệm Phật

Năm 1954, ngài lập chùa Vạn Đức ở Thủ Đức, nay thuộc TP. Hồ Chí Minh. Ngôi chùa ban đầu là ngôi nhà một Phật tử hiến tặng, được sửa lại làm chùa. Ngài ở đây cho đến cuối đời.

Năm 1955, ngài lập Hội Cực Lạc Liên Hữu tại chùa và khuyên tăng chúng tu theo pháp môn Tịnh độ: niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, nguyện sinh về cõi Cực Lạc. Ngài còn soạn những sách hướng dẫn người niệm Phật như Đường về Cực Lạc và Cực Lạc liên hữu tập.

Dịch kinh

Dù bận nhiều việc, ngài vẫn dành thời gian dịch kinh và giảng kinh. Những bộ kinh ngài dịch sang tiếng Việt gồm:

  • Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, trọn bộ bảy quyển;
  • Kinh Hoa Nghiêm, tám mươi quyển;
  • Kinh Đại Bảo Tích, Kinh Đại Bát Niết Bàn, Kinh Đại Bát Nhã;
  • các kinh quen thuộc như Kinh A Di Đà, Kinh Kim Cương, Kinh Địa Tạng, Kinh Phổ Hiền hạnh nguyện;
  • giới bản Tỳ-kheo và giới bản Bồ Tát.

Năm 1973, ngài được cử làm chủ tịch Hội đồng phiên dịch Tam tạng. Bản Kinh Diệu Pháp Liên Hoa để tụng trong ứng dụng này chính là bản dịch của ngài, từ bản chữ Hán của ngài Cưu Ma La Thập.

Trong Giáo hội

Ngài tham gia lãnh đạo Phật giáo qua nhiều thời kỳ. Đầu năm 1964, ngài dẫn đoàn đại biểu Giáo hội Tăng già Nam Việt dự hội nghị thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Năm 1980, ngài là phó ban Vận động Thống nhất Phật giáo. Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời năm 1981, ngài là phó chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự (xem bài Phật giáo Việt Nam hiện đại).

Từ năm 1984, ngài đứng đầu Hội đồng Trị sự của Giáo hội qua nhiều nhiệm kỳ. Năm 1992, ngài được suy tôn làm Đệ nhất Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh. Ngài cũng nhiều lần làm hòa thượng truyền giới trong các đại giới đàn.

Những ngày cuối

Ngày 28 tháng 3 năm 2014, ngài viên tịch tại chùa Vạn Đức, trụ thế chín mươi tám năm, hạ lạp sáu mươi chín năm. Nhục thân ngài được đưa vào bảo tháp trong khuôn viên chùa.

Kinh Pháp Hoa dài hai mươi tám phẩm. Mỗi lần tụng một phẩm, rồi niệm vài câu danh hiệu Đức A Di Đà, là một cách gần gũi để nhớ ơn vị thầy đã dịch bộ kinh ấy và khuyên người niệm Phật.

Thực hành

Đọc tiếp