Phật giáo Việt Nam · Danh nhân

Hòa thượng Thích Minh Châu

Hòa thượng Thích Minh Châu (1918–2012) là người đã dịch các bộ kinh lớn trong Kinh tạng Pāli sang tiếng Việt, để người Việt đọc được những bài kinh mà Phật giáo Nam tông gìn giữ bằng chính tiếng mẹ đẻ. Ngài cũng là viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh và người sáng lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

Một gia đình khoa bảng

Ngài sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 ở làng Kim Thành, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, thế danh Đinh Văn Nam, là con thứ tư trong một gia đình có mười một người con. Dòng họ ngài nhiều đời đỗ đạt. Cha ngài là ông Đinh Văn Chấp, đỗ hoàng giáp năm 1913 khi mới hai mươi mốt tuổi. Ông nội là tiến sĩ Đinh Văn Chất, một văn thân yêu nước ở Nghệ An.

Chàng thanh niên học giỏi, năm 1940 đỗ tú tài toàn phần ở trường Khải Định, nay là trường Quốc Học Huế. Từ năm 1936, ngài cùng người em là giáo sư Minh Chi đã tham gia phong trào học Phật do bác sĩ Lê Đình Thám khởi xướng ở Huế. Ngài là một trong những người lập ra Gia đình Phật hóa phổ, tiền thân của Gia đình Phật tử (xem bài Phong trào chấn hưng Phật giáo).

Xuất gia và du học

Năm 1946, ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế. Từ năm 1952 đến năm 1961, ngài đi du học. Năm 1961, ngài bảo vệ luận án tiến sĩ Phật học ở Ấn Độ, đỗ thủ khoa.

Luận án của ngài so sánh Trung Bộ kinh trong Kinh tạng Pāli với Trung A-hàm trong Kinh tạng chữ Hán. Đây là hai bộ kinh gần nhau, một bộ được truyền theo Nam tông, một bộ được truyền theo Bắc tông. So sánh hai bộ giúp thấy lời dạy của Đức Phật được hai truyền thống gìn giữ giống và khác nhau ra sao.

Viện Đại học Vạn Hạnh

Từ năm 1964 đến năm 1975, ngài làm viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, viện đại học tư thục Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam. Trường mang tên thiền sư Vạn Hạnh thời Lý, chọn châm ngôn "Duy tuệ thị nghiệp", nghĩa là lấy việc phát triển trí tuệ làm sự nghiệp.

Niên khóa đầu tiên năm 1964–1965 có hai phân khoa là Phật học và Văn học, gần bảy trăm sinh viên ghi danh. Đến năm 1973, trường có năm phân khoa và hơn ba nghìn sáu trăm sinh viên. Thư viện của trường có hơn hai mươi lăm nghìn đầu sách, nhiều bộ kinh bằng tiếng Pāli, tiếng Phạn, tiếng Hán, tiếng Nhật và các tiếng châu Âu.

Dịch Kinh tạng Pāli

Việc lớn nhất của đời ngài là dịch Kinh tạng Pāli, kho kinh mà Phật giáo Nam tông gìn giữ. Những bộ ngài dịch sang tiếng Việt gồm:

  • Kinh Trường Bộ, gồm những bài kinh dài;
  • Kinh Trung Bộ, gồm những bài kinh có độ dài vừa;
  • Kinh Tương Ưng Bộ, các bài kinh xếp theo chủ đề;
  • Kinh Tăng Chi Bộ, các bài kinh xếp theo con số, từ một pháp đến mười một pháp;
  • nhiều tập trong Tiểu Bộ, như Kinh Pháp Cú, Kinh Tập, Phật Tự Thuyết, Phật Thuyết Như Vậy, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ và Chuyện Tiền Thân (Bổn Sanh).

Các bài Phật học căn bản trong Thư viện này dẫn kinh theo số hiệu, như SN 56.11 là bài kinh Chuyển Pháp Luân trong Tương Ưng Bộ (xem bài Tứ Diệu Đế), hay DN 31 là kinh Thiện Sinh trong Trường Bộ (xem bài Phật pháp trong gia đình). Nhờ bản dịch của ngài, người Việt có thể tìm đọc trọn những bài kinh ấy bằng tiếng Việt.

Ngoài dịch kinh, ngài còn soạn nhiều sách, như Sách dạy Pāli, Chữ hiếu trong đạo Phật, Hành thiền, Lịch sử Đức Phật Thích Ca, Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.

Sau năm 1975

Ngài tiếp tục lo việc giáo dục Phật giáo. Năm 1976, ngài lập Viện Phật học Vạn Hạnh. Ngài tham gia cuộc vận động thống nhất Phật giáo (xem bài Phật giáo Việt Nam hiện đại). Năm 1981, ngài làm hiệu trưởng Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, cơ sở đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1984, ngài mở thêm cơ sở thứ hai ở TP. Hồ Chí Minh.

Năm 1989, ngài lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam cùng Hội đồng Phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam, và làm viện trưởng đầu tiên.

Ngài viên tịch ngày 1 tháng 9 năm 2012, thọ chín mươi lăm tuổi. Lễ tang được cử hành tại Thiền viện Vạn Hạnh, TP. Hồ Chí Minh.

Bắt đầu từ Kinh Pháp Cú

Kinh Pháp Cú là một nơi bắt đầu nhẹ nhàng: mỗi câu kệ ngắn, đọc một câu là có thể mang theo cả ngày. Đọc chậm một câu, rồi ngồi yên ít phút với Thiền tĩnh tâm để lời kinh thấm dần.

Thực hành

Đọc tiếp