
Bát Nhã Tâm Kinh
Bài kinh ngắn nhất và được tụng nhiều nhất trong hệ Bát Nhã, cô đọng giáo lý tánh không.
Giới thiệu
Bát Nhã Tâm Kinh là bài kinh ngắn nhất của Phật giáo Đại thừa, bản chữ Hán thông dụng chỉ có 260 chữ, mà gói trọn ý cốt lõi của cả hệ kinh Bát Nhã. Đây cũng là bài kinh được tụng, chép và học nhiều nhất trong Phật giáo Đông Á, và gần như Phật tử Việt Nam nào cũng biết.
Tên kinh và bản dịch
Tên đầy đủ trong tiếng Phạn là Prajñāpāramitāhṛdaya, nghĩa là "trái tim của trí tuệ hoàn hảo". "Bát Nhã" là phiên âm của chữ prajñā, trí tuệ. "Ba La Mật Đa" là pāramitā, thường dịch là hoàn hảo, hoặc hiểu là đã sang tới bờ bên kia. "Tâm" là trái tim, phần cốt lõi. Vì vậy kinh được xem là tinh yếu của bộ kinh Đại Bát Nhã sáu trăm quyển.
Kinh có nhiều bản chữ Hán. Bản phổ biến nhất ở Việt Nam là bản của ngài Huyền Trang, dịch năm 649 sau chuyến đi thỉnh kinh ở Ấn Độ. Có một bản sớm hơn được gắn với tên ngài Cưu Ma La Thập, nhưng một số học giả cho rằng bản ấy do người đời sau soạn. Thời điểm kinh ra đời đến nay vẫn còn bàn cãi.
Bản tụng trong ứng dụng đọc nguyên văn chữ Hán theo âm Hán-Việt, mở đầu bằng danh hiệu Quán Tự Tại Bồ Tát như bản của ngài Huyền Trang.
Bố cục
Bản ngắn quen thuộc không có câu mở đầu "Tôi nghe như vầy" như phần lớn các kinh. Kinh đi thẳng vào lời Bồ Tát Quán Tự Tại, tức Bồ Tát Quán Thế Âm, nói với ngài Xá Lợi Tử:
- Khi thực hành sâu trí tuệ Bát Nhã, Bồ Tát soi thấy năm uẩn đều không, nên vượt qua mọi khổ ách.
- Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy.
- Trong cái không ấy, các pháp không sinh không diệt, không dơ không sạch, không thêm không bớt. Ngay cả mười hai nhân duyên hay Tứ Diệu Đế cũng được nói là "không có".
- Bồ Tát nương trí tuệ ấy nên tâm không còn ngăn ngại, không còn sợ hãi. Chư Phật ba đời cũng nương trí tuệ ấy mà thành Phật.
- Kinh kết bằng câu thần chú "Yết đế, yết đế, ba la yết đế…".
Ở Tây Tạng còn có bản dài, có đủ phần mở đầu và phần kết như các kinh khác.
Ý chính
Câu nổi tiếng nhất của kinh là "sắc tức thị không, không tức thị sắc". "Không" ở đây không phải là chẳng có gì. Theo cách giải thích phổ biến, năm uẩn và mọi pháp đều do nhân duyên hợp lại mà thành, nên không có một tự tánh đứng riêng.
Vì sao kinh lại nói "không có" Tứ Diệu Đế? Theo cách hiểu phổ biến về hai tầng chân lý, các giáo lý ấy đúng ở mức quy ước, là lời dẫn đường; còn sự thật rốt ráo thì vượt ngoài khái niệm. Trí tuệ Bát Nhã là thấy thẳng sự thật mà không bám vào chính những khái niệm ấy.
Bài Tâm an cũng dựa vào câu "tâm vô quái ngại", tâm không ngăn ngại, để nói về cách buông bớt lo âu.
Tụng khi nào
Tâm Kinh được tụng ở hầu hết các tông phái Đại thừa, và ở Việt Nam kinh rất thường được đọc tụng. Ngay trong các bản tụng của ứng dụng, Tâm Kinh còn đi kèm Kinh A Di Đà, Kinh Phổ Môn, Kinh Kim Cang, Kinh Dược Sư và Kinh Vu Lan.
Vì ngắn, kinh hợp với những lúc chỉ có ít phút: đầu ngày, trước giờ ngủ, hay khi cần lắng lòng. Tụng chậm, rồi ngồi yên một lát với câu "tâm không ngăn ngại".
Nội dung kinh
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Đề kinh
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh
Chánh văn
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, tâm vô quái ngại.
Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn. Tam thế chư Phật, y Bát Nhã Ba La Mật Đa cố, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Cố tri Bát Nhã Ba La Mật Đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chân thật bất hư.
Thần chú
Cố thuyết Bát Nhã Ba La Mật Đa chú, tức thuyết chú viết: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.
Tụng 3 lần
Tìm hiểu thêm
Nguồn
- Kinh văn theo bản tụng trong Phòng Tụng Kinh.