← Lịch

Vía Bồ Tát Quán Thế Âm đản sinh

Ngày 19 tháng Hai âm lịch là ngày vía Bồ Tát Quán Thế Âm đản sinh. Đây là ngày đầu trong ba ngày vía của Ngài: 19 tháng Hai đản sinh, 19 tháng Sáu thành đạo, 19 tháng Chín xuất gia. Ngài là một trong những vị Bồ Tát được tôn kính rộng rãi nhất của Phật giáo Đại thừa; người Việt vẫn gọi thân thương là Phật Bà Quan Âm.

Vì sao có ba ngày vía

Kinh điển không ghi ngày sinh của Bồ Tát Quán Thế Âm. Theo một bài viết trên trang Phật giáo Việt Nam, ba ngày vía được ghi trong sách Thiền môn nhật tụng và giữ theo lệ của Phật giáo Bắc tông. Ngày vía, như vậy, không phải mốc lịch sử, mà là ba dịp trong năm để nhớ đến Ngài và học theo hạnh nguyện của Ngài.

Báo Giác Ngộ cũng nhận xét: trong các ngày vía, lễ vía Đức Phật Thích Ca và lễ vía Bồ Tát Quán Thế Âm là được các chùa tổ chức trọng thể và đông Phật tử về dự nhất.

Người lắng nghe tiếng kêu của cuộc đời

Tên tiếng Phạn của Ngài là Avalokiteśvara. Quán Thế Âm nghĩa là quán xét, lắng nghe âm thanh của thế gian. Phẩm Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa giải thích: chúng sinh gặp khổ nạn mà một lòng xưng danh hiệu Ngài, Ngài liền nghe tiếng ấy mà cứu giúp.

Ngài Huyền Trang dịch tên Ngài là Quán Tự Tại, và đó cũng là tên được dùng trong Bát Nhã Tâm Kinh: "Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời…". Ở đây, Ngài là người quán chiếu sâu vào chính mình, thấy năm uẩn đều không, nên vượt qua mọi khổ ách. Hai cái tên, hai mặt của một con người: lắng nghe nỗi khổ của người, và tự tại trước nỗi khổ của mình.

Theo Kinh Đại Bi Tâm Đà-la-ni, từ vô lượng kiếp trước Ngài đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Vì nguyện lực đại bi, Ngài hiện thân làm Bồ Tát để giúp chúng sinh, và là vị Bồ Tát hầu bên Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc. Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân cho lòng bi, còn Bồ Tát Đại Thế Chí đứng phía bên kia hiện thân cho trí tuệ.

Nhiều hình tướng, một lòng thương

Kinh Pháp Hoa kể Ngài có thể hiện ra hơn ba mươi thân khác nhau, làm Phật, làm vua, làm người lớn hay trẻ nhỏ, nam hay nữ, tùy theo người cần được giúp. Vì thế tranh tượng Quán Thế Âm rất đa dạng.

Ở Ấn Độ, Ngài vốn được tạc với thân nam. Từ khoảng thế kỷ 12, Trung Hoa chuộng hình tướng một người nữ áo trắng, và ở Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Ngài thường hiện với thân nữ Bạch Y. Tượng Ngài hay cầm cành dương liễu và bình nước cam lộ, có khi cầm hoa sen hồng. Tượng nghìn tay nghìn mắt nói lên ý nguyện cứu giúp chúng sinh trong mọi hoàn cảnh: tay nào cũng có một con mắt, thấy đến đâu thì giúp đến đó.

Phẩm Phổ Môn, phẩm thứ hai mươi lăm của Kinh Pháp Hoa, thường được tách ra tụng riêng, gọi là Kinh Phổ Môn hay Kinh Quán Thế Âm. Chú Đại Bi, bài chú quen thuộc với người tụng kinh, cũng là đà-la-ni do chính Ngài nói ra.

Gợi ý cho ngày vía