
Vía Đức Phật A Di Đà
Ngày 17 tháng Mười một âm lịch, các chùa Bắc tông làm lễ vía Đức Phật A Di Đà. Câu "Nam mô A Di Đà Phật" là một câu niệm rất quen thuộc với người Phật tử Việt Nam.
Kinh điển không ghi ngày sinh của Đức A Di Đà. Ngày 17 tháng Mười một vốn là ngày sinh của Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ. Tương truyền ngài là hóa thân của Phật A Di Đà, nên người theo Phật giáo Bắc tông, nhất là Tịnh độ tông, lấy ngày ấy làm ngày vía của Đức Phật.
Ánh sáng không lường, thọ mạng không lường
Tên tiếng Phạn Amitābha nghĩa là "ánh sáng vô lượng". Ngài còn được gọi là Amitāyus, "thọ mạng vô lượng". Vì vậy kinh sách Việt gọi Ngài là Phật Vô Lượng Quang, Phật Vô Lượng Thọ, và cũng gọi là Tiếp Dẫn Đạo Sư: vị thầy đón đưa chúng sinh.
Ngài là một trong những vị Phật chính của Phật giáo Đại thừa, và là vị được tôn kính rộng rãi nhất ở Đông Á. Tượng A Di Đà thường ngồi kết ấn thiền định. Tượng đứng thì hay giơ tay kết ấn vô úy, ý nói che chở cho người đang sợ hãi.

Lời nguyện của tỳ-kheo Pháp Tạng
Theo Kinh Vô Lượng Thọ, từ vô số kiếp trước, Đức A Di Đà là một vị tỳ-kheo tên Pháp Tạng. Có bản kinh kể ông vốn là một vị vua; gặp Phật Thế Tự Tại Vương nghe pháp, ông bỏ ngai vàng đi tu. Suốt năm kiếp dài, ông suy xét những gì tốt đẹp nhất của các cõi Phật, rồi phát những lời nguyện lớn. Nếu lời nguyện nào chưa thành, ông nguyện không thành Phật. Bản kinh phổ biến nhất ghi bốn mươi tám lời nguyện.
Lời nguyện được nhắc nhiều nhất là nguyện thứ mười tám. Đại ý: chúng sinh khắp mười phương, nếu hết lòng tin ưa, muốn sinh về cõi của Ngài, và nhớ niệm đến Ngài dù chỉ mười lần, mà không được sinh về đó, thì Ngài không thành Phật. Nay Ngài đã thành Phật, nên người tu Tịnh độ tin rằng lời nguyện ấy đã thành.
Cõi của Ngài là Cực Lạc ở phương Tây. Ở đó có hai vị Bồ Tát hầu hai bên: Quán Thế Âm hiện thân cho lòng từ bi, Đại Thế Chí hiện thân cho trí tuệ. Ba vị cùng được gọi là Tây Phương Tam Thánh. Ngày 13 tháng Bảy âm lịch là ngày vía Bồ Tát Đại Thế Chí.
Pháp môn niệm Phật
Năm 402, ngài Huệ Viễn lập Bạch Liên xã ở Trung Hoa. Tăng sĩ và cư sĩ cùng nhau họp trước tượng A Di Đà, nguyện sinh về Cực Lạc. Ngài Huệ Viễn vì thế được tôn là Sơ tổ Tịnh độ tông. Ngày nay, Tịnh độ là pháp môn phổ biến nhất ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.
Kinh A Di Đà, một bài kinh ngắn trong ba bộ kinh chính của Tịnh độ, dạy giữ niệm danh hiệu Phật từ một đến bảy ngày, cho tới khi tâm không còn tán loạn. Theo cách hiểu của nhà Tịnh độ, mục đích của niệm Phật trước hết là để chế ngự tâm. Có thể niệm to hay niệm thầm, có tượng hay không có tượng đều được. Người tu thường tự đặt cho mình một mốc số câu mỗi ngày.
Ở Việt Nam có những khóa niệm Phật dài ngày hướng về ngày vía. Như ở Nhất Nguyên Bửu Tự (Lái Thiêu), từ năm 1964 đã có khóa niệm Phật một trăm ngày đêm. Khóa khai kinh đêm mùng 7 tháng Tám và hoàn kinh đêm 16 rạng sáng 17 tháng Mười một, đúng ngày vía Đức A Di Đà.
Gợi ý cho ngày vía
- Niệm Phật A Di Đà một thời dài hơn ngày thường, chọn một mốc vừa sức và giữ cho trọn.
- Tụng Kinh A Di Đà một biến ở nhà, hoặc đến chùa tụng cùng đại chúng.
- Ăn chay, dâng hương, hoa, đèn, trà, quả lên bàn Phật.
- Hồi hướng công đức niệm Phật cho ông bà, cha mẹ đã khuất, và cho những người đang bệnh nặng.
- Trong ngày, mỗi lần thấy mình nóng giận hay lo lắng, thầm niệm một câu "Nam mô A Di Đà Phật" rồi thở chậm lại.