Pháp Môn Tịnh Độ

MỤC VI - Chuẩn bị hành trang

Pháp Môn Tịnh ĐộMỤC VI - Chuẩn bị hành trang

I) - TRÁNH BA NGHIỆP, XẢ BỎ.

Kiểm điểm kỹ lưỡng khiến lỗi chẳng sinh về thân, khẩu và ý.

1)- TRÁNH BA NGHIỆP:

a) – VỀ THÂN :

Về thân, tránh làm tổn hại các loài, tránh những gì không cho mà lấy, tùy khả năng bố thí cúng dường, không mong cầu danh lợi, đền đáp, đối với vật chất (sắc) tâm không nhiễm trước đam mê điên đảo.

b) – VỀ MIỆNG: Lời nói và ăn chay:

– LỜI NÓI: Chúng ta muốn nhổ sạch hư vọng, dứt trừ gốc sinh tử phải thực hành 4 thật ngữ, do Đại-Sư Vĩnh-Gia dạy, đó là các lời: Như thật, Ngay thẳng, Hòa hợp, Dịu dàng, phân ra như sau:

1 - Lời Như thật hay trừ lời nói dối, có hai thứ:

- Sự thật: Có nói có, không nói không, phải nói phải, quấy nói quấy.

- Lý thật: Tất cả chúng-sanh đều có Phật tánh, Niết-Bàn thường trụ.

2 - Lời Ngay thẳng hay trừ lời thêu dệt, có 2 thứ:

- Nói đúng pháp: khiến cho người nghe tin hiểu rõ ràng.

- Nói đúng lý: khiến cho người nghe trừ hết nghi lầm.

3 - Lời Hòa hợp hay trừ lời hai lưỡi, có 2 thứ:

- Sự hòa hợp: Thấy người đấu tranh can gián khuyên nên xả bỏ.

- Lý hòa hợp: Thấy người thoái tâm Bồ-đề ân cần khuyên tấn vỗ về.

4 - Lời Dịu dàng hay trừ lời hung ác, có 2 thứ:

- Lời an ủi: khiến cho người nghe vui vẻ gần gũi.

- Lời thanh nhã: khiến cho người nghe yêu thích tu tập.

– ĂN CHAY.

Ăn thịt tạo nghiệp sát sanh, rất trái với lòng từ bi bình đẳng, khiến cho tâm trí con người mờ tối, gây bệnh hoạn, tăng trưởng tham lam, sân hận, dâm dục. Ăn thịt gây nghiệp báo, đền trả oán thù chồng chất không có ngày kết thúc, khiến dòng sinh tử ngày càng nặng chìm xuống cõi thấp. Đối với người tu, việc ăn chay rất cần thiết cho lòng từ bi bình đẳng của mình, nếu chưa thể ăn chay trường, thì cũng nên ăn chay giữ đúng theo ngày Âm lịch:

- Hoặc 2 ngày: Mồng một và rằm (15)

- Hoặc 4 ngày: Ngày 1, 8, 15, 23.

- Hoặc 6 ngày: Thêm ngày 14, 30.

- Hoặc 10 ngày: Thêm ngày 18, 24, 28, 29.

Dù chưa ăn chay trường được, cũng nên mua thịt cá làm sẵn, chớ có sát sanh trong nhà hoặc bảo người sát sinh. Cố gắng bỏ tâm thích ăn thịt cá và thay vào bằng tâm thương xót chúng sanh.

c) – VỀ Ý: BUÔNG BỎ.

Do niệm tà làm nhân duyên hay sinh ra muôn điền ác, nhờ chính kiến, chính tư duy làm nhân duyên hay khởi lên vạn điều thiện.

Người niệm Phật cần phải buông bỏ tất cả, xa lià mọi thứ phan duyên như viết văn làm thơ, đọc sách báo xem tiểu thuyết, coi truyền hình nghe truyền thanh, coi văn nghệ dự đại hội, bàn chuyện chính trị chiến tranh, nói chuyện triết-lý văn-chương; xa lià những thói quen vô ích như bàn chuyện người khác, khen chê yêu ghét, đẹp xấu đúng sai, vinh nhục phải trái.

Cũng chẳng nên nói chuyện qúa khứ xa xưa (qúa khứ đã qua, đã mất, mà chúng ta cứ sống với cái đã mất, chính chúng ta đang sống mà như đã chết), hội họp bàn luận mưu kế, tụ tập ủng hộ, biểu tình phản đối; lại cần phải từ bỏ thói hư tật xấu như đánh cờ đánh bạc, rượu chè tranh cãi, giận thù gây lộn v.v..

Tất cả đều phải ít nhất là giảm đi, nếu ngưng được, chấm dứt được, rời bỏ được thì tốt biết mấy, để có thời giờ và tâm trí vào việc niệm Phật; nên nhớ tất cả những sự vui vẻ, sung sướng, khoan khoái, thích thú chỉ là hoa đốm giữa hư không, bọt bóng nổi trên mặt nước, nó cũng chỉ như ánh chớp trong không trung, tất cả chỉ có trong khoảnh khắc rồi biến mất, không lâu, không nghĩa lý gì cả.

Người niệm Phật chân chính cũng lại phải biết chịu đựng sự quấy phá rầy rà, cam được sự đạm bạc thiếu thốn, nhẫn được sự nóng lạnh ruồi muỗi ồn ào, giữ được sự bình thản trước mọi cư xử tốt xấu, đảm đương được việc nặng nề lao nhọc, quên được danh lợi, bỏ được ái ân.

Lại còn cần phải đối với tất cả nơi tâm chẳng trụ vào các tướng (hình dáng), trong các tướng ấy chẳng sinh lòng yêu ghét; chẳng tưởng đến việc lợi hại nên hư, chẳng thấy cái dở của người (kể cả cái hay cũng vậy), chẳng bị thanh sắc mê hoặc, chẳng khởi lòng căm thù tức bực giận hờn, phải một lòng trong trắng ngay thật.

II) - KHÔNG YÊN VỀ SỐNG CHẾT.

Việc lớn sinh tử là từ vô lượng kiếp về trước (vô thủy) trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi đến ngày hôm nay, nếu không tu để vãng sinh, sẽ còn tiếp tục trôi nổi mãi mãi cho đến muôn vàn kiếp sau (vô chung).

Bởi vậy ngày nay phải lấy chí khí quyết định đem hết cuộc đời còn lại này làm giới hạn, chỉ cần ở tất cả chỗ đều nắm chắc một câu niệm Phật, ở tất cả lúc chẳng buông bỏ gián đoạn, người niệm Phật phải có thân tâm chẳng yên, nội tâm luôn luôn lo lắng; bởi vì người dụng công niệm Phật biết rằng việc lớn niệm Phật chưa tới nhất tâm thì không yên tâm được.

Ta muốn lià khổ mà không dụng công niệm Phật thì không được. Ta muốn cứu độ chúng-sanh mà không niệm Phật lại càng không được, vì thế cho nên mỗi khi đánh mất công phu niệm Phật, lòng ta lo lắng sợ hãi không yên.

Người xưa nói:

“Niệm Phật không bí quyết chỉ cần sinh tử thiết”,

Lời này là cội gốc của sự học đạo, xưa các bậc tiền bối chí bền hạnh thiết niệm siêng, chẳng để một chút gián đoạn, chẳng phải do thầy hay bạn cảnh sách, mà bởi cội gốc của các Ngài chỉ là cái chí nguyện thống thiết sinh tử chưa giải quyết xong.

Khi tình cảm nổi dậy thì trí-huệ bị che lấp, tư tưởng biến đổi (tưởng nhớ, suy nghĩ việc này qua việc khác), thân thể cũng theo đó mà biến dạng; nếu muốn cho bất cứ lúc nào tình chẳng sinh, bất cứ chỗ nào tưởng chẳng biến, cần phải đem việc lớn sinh tử để ở trong lòng, lo lắng việc giải quyết vấn đề sống chết, nếu chết đi sẽ không giải quyết được nữa.

Bởi vậy tình vừa muốn sinh liền bị nó ngăn, tưởng vừa toan muốn biến liền bị nó chặn; chỉ cần một việc lớn sinh tử chưa giải quyết xong luôn luôn ở trong lòng để lấp bít ý căn.

Khi ta đem việc sinh tử vô thường ra để suy nghĩ xem thì thấy trên các mộ bia ngoài nghĩa-địa rất ít người sống trên 100 tuổi, có ít người sống từ tuổi 90 tới 100, có nhiều người hơn chỉ sống từ trên 75 tới 10. Lại có nhiều người hơn nữa chỉ sống từ 60 đến 75, nhưng cũng có những người sống chưa tới tuổi 60, 50, 40, và ngay cả chưa tới tuổi 30, nghĩa là những người chết có đủ các lớp tuổi, và chẳng ai biết mình sẽ sống tới tuổi nào. Nếu cái nghiệp của mình đã tạo từ những kiếp trước khiến mình sống được dài lâu kiếp này sẽ còn nhiều thời giờ; ngược lại, nếu có nghiệp xấu, khi cái chết đến sớm biết phải làm sao (?); lại phải qua một kiếp nữa trôi lăn, biết kiếp nào mới ra khỏi vòng luân hồi khốn khổ.

Cái chết không lựa già trẻ, sang hèn, tài nghệ, thế lực... Thân này là chỗ hợp của các nhân duyên sầu khổ, nếu cho rằng thân mình trẻ ít tuổi còn sống lâu là ngu si. Thân là do 4 đại tụ họp cũng như bốn con rắn độc, tuy cùng nhau tụ lại mà không hẳn là hợp; từ khi sinh ra đến khi già, cái chết lúc nào cũng rình rập, thế mà yên ổn được sao?

Như cổ nhân có nói:

“Có người chết từ trong bụng mẹ chưa sinh ra, có người chết khi đang sinh ra, có người chết khi còn bú, có người chết khi còn trẻ, có người chết trong tuổi thanh xuân,, có người chết ở tuổi trung niên,, có người chết mãi khi về già, vậy tất cả mọi thời gian đều là cảnh chết cả”.

Có một lần Đức Phật cầm một hòn đất và nói với Tôn-Giả A-Nan-Đà, thị giả của Phật rằng: “Số người được trở lại làm người như hòn đất này, so với số người chết nhiều như số đất của đại địa”.

Xem thế đủ hiểu không dễ gì được trở lại làm người, một điều chúng ta cần phải biết và nhớ kỹ trong lòng, ngay cả khi được trở lại làm người nhưng nếu gặp phải cha mẹ theo ngoại đạo, hay cha mẹ có tà kiến không tin theo Phật đạo, sẽ không có cơ hội gần gũi Phật pháp.

III) – CHÁN TA BÀ, ƯA CỰC LẠC:

Để chuẩn bị hành trang cho việc tu Pháp Môn Tịnh Độ, chúng ta cần để ý các điều xấu xa tệ hại bất công v.v... đáng chán trong cuộc sống hiện tại để so sánh với sự tốt đẹp đáng ưa của cõi Cực Lạc. Lúc nào cũng chán nản nỗi khổ sinh tử ở Ta Bà, ưa nhớ niềm vui Tinh độ, có làm việc gì tốt thì hồi hướng vãng sanh, xấu thì sám hối nguyện cầu vãng sinh. Việc này sẽ gây cho tâm tư chúng ta một định hướng rõ ràng trong việc tu hành, vấn đề chia làm hai phần như sau:

  1. – VỀ CẢNH (Y BÁO):

Về cảnh, khi chúng ta thấy các nơi rác rến dơ bẩn, hoặc sông rạch ao tù nước đọng, bãi rác hôi thối bốc lên, chúng ta nhớ ngay tới cảnh Ao tám nước công đức cõi Cực Lạc rộng lớn mênh mông, sen mọc hàng hàng lớp lớp, mùi thơm nhẹ nhàng thanh tao phảng phất. Lúc đó, chúng ta nghĩ: “Ở đây đáng chán, Cực Lạc đáng ưa” và thầm nghĩ hoặc nói thành tiếng để chính mình nghe: “Con nguyện sinh sang Tây Phương Cực Lạc”.

Hoặc khi thấy mấy con chim lạ tuy sặc sỡ đẹp đẽ, cũng chẳng phải là đẹp và hoàn hảo như chim cõi Cực Lạc, vì chim ở đây do tội báo sinh ra có đủ thứ tính xấu, lại luôn luôn tìm bắt giết hại côn trùng. Đó là chưa nói tới nhiều loài chim bắt loài chim khác ăn thịt. Thấy thế rồi sinh chẳng ưa vì không thể so sánh được với chim cõi Cực Lạc không do tội báo sinh ra, nếu muốn ngắm chim đẹp ta nguyện sinh sang cõi Cực lạc tha hồ ngắm chim đẹp lạ thường, lại được vô số lợi ích khác nữa.

Hoặc khi chúng ta thấy những khu nhà tồi tàn ổ chuột sập sệ, đường hẻm ngõ ngách chật hẹp tối tăm thiếu tiện nghi, chúng ta so sánh với các lâu đài cung điện cõi Trời đã là một trời một vực rồi, huống hồ là cung điện cõi Trời còn thua cung điện ở Cực Lạc. Vì vậy khi thấy cảnh nhà tồi tàn ổ chuột hẻm ngõ chật hẹp sinh ra chán, chúng ta liên tưởng tới lâu đài cung điện nguy nga đồ sộ sinh ra ưa thích thầm nói: “Con nguyện quyết sinh sang cõi Cực Lạc.”

Ngay cả những khu biết thự khang trang nhà cao cửa rộng, như những nước tiên tiến Âu Mỹ giàu có, biệt thự, cung điện, lâu đài to lớn, cũng chẳng thể so sánh với các cung điện, lâu đài cõi Trời, chứ đừng nói là so sánh với Lâu Các cõi Cực Lạc là tối thắng. Chúng ta lại nói: “Con nguyện sinh về Cực Lạc, không ở đâu bằng, ở đó là tối thắng”

Hoặc đi qua tiệm vàng bán hột xoàn thấy các thứ bày trong tủ, chúng ta nghĩ: “Vàng bạc kim cương trong tiệm chỉ một dúm có đáng là bao, so với Cực Lạc chỗ nào cũng có vàng, đáy ao bằng vàng, trên vàng là kim cương to nhỏ đầy rẫy, chỉ cần lấy tay bốc một bốc là đầy tay kim cương”. Nghĩ vậy rồi nên lại phát nguyện: “Con nguyện nhất định sinh sang cõi Cực Lạc”.

Hoặc khi nghe thấy mấy người chen lấn mua vé, bán vé chợ đen ca kịch, chiếu bóng, ta nghĩ ngay tới những màn trình diễn đều là dính mắc tham sân ái dục, chẳng phải cởi mở ràng buộc, đáng chán, không có lợi ích cho sự thoát khỏi sống chết. Chẳng thể so sánh với cõi Cực Lạc, có gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và mành lưới báu, làm vang lên tiếng vi diệu, ví như trăm thứ nhạc đồng hòa chung, người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sinh tâm vui vẻ, nghĩ như vậy, chúng ta lại phát nguyện được sinh về Cực Lạc.

  1. – VỀ NGƯỜI (CHÍNH BÁO):

Ở cõi Ta Bà này, đức Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn từ lâu rồi, đức Phật Di Lặc chưa hạ sinh, mặc dù còn giáo Pháp của Phật để lại, nhưng có thắc mắc điều gì cũng khó biết hỏi ai cho chắc chắn, dù có Tăng Ni đó, nhưng cũng khó tìm được người trí thực sự. Do đó ở cõi này hiện tại không thể bằng cõi Cực Lạc có Phật A Di Đà, có hai vị Đại Bồ Tát Quan Âm, Thế Chí, rồi còn biết bao nhiêu Bồ Tát, A La Hán, Thanh Văn, Thượng thiện nhân không thể tính đếm hết, đó là nỗi ưu tư của chúng ta như thế, nên phải phát nguyện sinh về cõi Cực Lạc để được dẫn dắt tu hành cho chắc chắn.

Khi chúng ta đến chợ hoặc gặp đám đông cãi nhau hoặc gây sự đánh lộn, hoặc đi xe thấy sự tranh đường đi chèn ép nhau, giành chỗ đậu xe, ta nghĩ: “Chán cõi người này quá, không biết nhường nhịn lẫn nhau, hơi một tí là gây sự với nhau như thế”, chúng ta nghĩ ngay đến cõi Cực Lạc vui vẻ biết thương nhau như anh em cùng nhà, rồi phát nguyện muốn được sinh sang Cực Lạc có đời sống không ô hợp như ở đây nữa.

Hoặc khi bị bạn bè người thân phản trắc, chúng ta khởi nghĩ: “Cõi này phần nhiều là như vậy, xảy ra nhan nhản việc như thế ở mọi nơi, nên đầy đau khổ, cõi Cực Lạc đâu có như thế, toàn là bậc Thượng nhân đáng kính đáng quý đối với nhau như khách quý, chứ đâu có việc phản trắc. Ta nhất định nguyện sinh sang Cực Lạc để thoát cảnh xấu xa này.”

Hoặc vì sinh kế làm ăn vất vả cũng không đủ đâu vào đâu, chúng ta khởi nghĩ: “Cõi này làm việc cực khổ suốt đời lo lắng cũng không đủ, dù cho tới chết cũng vậy thôi, ta quyết định vãng sanh Cực Lạc, ở đó muốn ăn có ăn, muốn uống có uống, đầy đủ không thiếu chi cả. Chỉ nghĩ muốn ăn gì, muốn uống gì, muốn mặc như thế nào đều tự nhiên có sẵn như có người bưng đến hầu mình vậy; ngay cả dọn dẹp rửa bát đũa nấu cơm cũng không phải làm, vì các thứ ấy tự hiện ra và biến đi khi ta dùng xong, thật khỏe làm sao, sướng quá trời”. Có ai dại gì mà không muốn sống sung sướng như thế chứ, nên ta phải nhất định qua đó mới thỏa lòng mong muốn.

Hoặc ta thấy người được đi đây đí đó ra cái vẻ “Đi du lịch” chỗ này chỗ kia, chúng ta coi đó là “đồ bỏ”, không nghĩa lý gì, không bằng một phần nhỏ nào khi ta sang cõi Cực Lạc rồi, mỗi ngày từ sáng sớm tới giờ ăn sáng khoảng vài giờ là ta đi hết 10 phương đến các cõi Phật có vô lượng cảnh, gặp vô lượng Phật, cúng dàng các Ngài được vô lượng công đức, xong trở về vẫn kịp bữa ăn.

Hoặc khi ta thấy cảnh người ốm đau bệnh hoạn, người không đủ giác quan, kẻ tàn tật khổ sở, người chết yểu, chết vì rủi ro tai nạn, v.v... Lại thấy vô số kẻ tà kiến không tin luân hồi nghiệp báo, nên làm ác khắp thế giới, như thế làm sao có thể ham nổi thế giới ngũ trược này được? Chúng ta nguyện sinh về cõi Cực Lạc không có các cảnh khổ như thế, tất cả đều hóa sinh từ hoa sen ra đầy đủ giác quan khỏe mạnh và nhất là sống sung sướng lâu vô lượng kiếp.

Hoặc khi thấy tu các pháp môn khác không thích hợp với mình mà muốn cho chắc ăn, chúng ta phát nguyện tu Pháp Môn Tịnh Độ, được Chư Phật hộ niệm, khi sinh sang đó rồi không bị thoái chuyển, không bị đọa lạc, dù mau hay lâu cũng chỉ một đời là thành Phật. Như thế thì ai mà chẳng nguyện cầu mong muốn sinh sang cõi Cực Lạc?

Muốn nguyện thiết niệm siêng, chúng ta luôn luôn nhớ các điều nêu ra ở trên, mỗi lần gặp nghịch cảnh nên nhớ ngay cõi Cực Lạc và trong ý nghĩ thầm nguyện hay nói thành tiếng: “Con nguyện sinh sang Tây Phương Cực Lạc”. Mỗi khi nguyện như thế là khơi động lòng chán ngấy cõi khổ, kích đông tâm tha thiết muốn sinh sang Cực Lạc, chứ không phải khơi động lòng tức giận đâu, mà chỉ là chán cõi uế ưa cõi Tịnh, để tâm ta luôn luôn hướng đến cõi Cực Lạc, như vậy việc niệm Phật của chúng ta mới dễ đưa đến niệm thiết được vậy.

Điểm quan trọng là trong mọi hoàn cảnh, dù công việc cấp bách, nói năng, đi lại, chúng ta vẫn âm thầm nhớ đến Phật A Di Đà, nghĩ đến cảnh Cực Lạc rõ ràng; nếu lãng quên phải nhiếp tâm trở lại, lâu dần thành thói quen tự nhiên thường nhớ nghĩ như thế, như vậy sự cách Phật và cõi Cực Lạc sẽ không còn xa nữa, và sự vãng sinh sẽ được chắc chắn vậy.

Có người cho rằng: Phân chia Tịnh độ, uế độ; bỏ uế lấy Tịnh đều thuộc vọng tưởng, đâu đáng gọi là chân tu.

Đó chẳng phải sự lấy bỏ trong vọng tưởng của thế gian, mà chính là phương pháp của Chư Phật trong mười phương để chuyển phàm thành Thánh; nếu chẳng chán nản rời bỏ, làm sao chuyển phàm, nếu chẳng ưa thích chọn lấy, làm sao thành Thánh? Từ phàm phu trở lên, mỗi địa vị đều có sự lấy bỏ, mãi đến bậc Diệu Giác mới hết lấy bỏ, vì thế cho nên, bậc cao đức thuở xưa nói: “Chỗ tột cùng của lấy bỏ và không lấy bỏ chẳng khác nhau”, như thế, sao có thể gọi là chẳng phải chân tu?

Vả lại, nên biết chân tục không hai, lặng lẽ, tác dụng vô ngại, thì trọn ngày lấy bỏ mà chẳng thấy có tướng lấy bỏ, tin sự lấy bỏ cùng không lấy bỏ vốn chẳng khác nhau; Ngài Duy Ma Cật nói: “Tuy biết pháp của chư Phật cùng chúng sinh rỗng không mà thường tu Tịnh độ giáo hóa chúng sinh”, đó là nói về ý này.

Đại Sư Triệt Ngộ nói: “Truyện vãng sanh ghi chép tướng lành lúc lâm chung rất nhiều, hàng hàng lớp lớp, lẽ nào lại lừa gạt người hay sao? Tin như thế rồi nguyện ưa thích Tịnh độ thiết tha; lấy niềm vui ở cõi Cực Lạc, xem rõ nỗi khổ nơi Ta bà, tâm chán lià như muốn ra khỏi lao ngục trông về niềm vui Cực Lạc. Tóm lại, ví như ngưòi khát nghĩ đến uống, đói nghĩ đến ăn, bệnh nghĩ đến thuốc hay, trẻ thơ nghĩ đến mẹ; như tránh kẻ thù đang bức bách giết hại, v.v…Nếu có thể khẩn thiết như thế, tất cả cảnh duyên chẳng thể dẫn dắt được.”

Đại Sư Hành Sách cũng nói: “Người tu Tịnh độ xem ba cõi như nhà lửa ngục tù siềng xích, xem thanh sắc như rắn độc, thuốc độc, xem địa vị danh vọng như gông cùm, xem sự thông thoát và sự cùng đường trong cuộc đời như giấc mộng hôm qua, xem cuộc sống trong cõi Ta Bà như ở nơi quán trọ; vừa lòng hay không cũng được, chỉ dành thời gian nhất tâm niệm Phật mà thôi; nếu đưọc như thế mà không vãng sinh Tịnh độ, thì Chư Phật đều thành ngưòi nói dối sao?”

3)- SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI CÕI:

Bồ-tát Long Thọ nói: “Tu hành trong cõi Ngũ trược gọi là khó, như người què đi trên đường hiểm trở, một ngày chẳng đi quá mười dặm; tu hành ở Tịnh độ gọi là dễ, như kẻ phàm phu nương vào sức mạnh của Bồ Tát, trong một ngày đi khắp bốn thiên hạ”.

Nay đem mười điều khó ở cõi Ta-bà để so sánh với mười điều dễ ở Tịnh độ:

1. Ta-bà khó gặp Phật. Phật Thích-ca đã diệt độ, tà pháp mạnh mẽ; Cực Lạc thì Phật A Di Đà hiện đang làm giáo chủ.

2. Ta-bà mạt pháp nhiễu nhương, có nhiều ngoại đạo, dù bàn Phật pháp nhưng đa số nghiêng lệch sai lầm; Cực Lạc có Phật và Bồ-tát, nước, chim, cây rừng thường tuyên thuyết Diệu pháp.

3. Ta-bà bạn bè tà ác, mong cầu lợi dưỡng, làm mê lầm người tu hành đọa vào ba đường ác; Cực Lạc có Quán Âm, Thế Chí làm bạn thù thắng và các bậc Thượng thiện nhân ở chung một nơi.

4. Ta-bà có các loài ma não loạn, phá hoại chính pháp; Cực Lạc tuy có Thiên ma nhưng đều hộ trì chánh pháp, giúp người tu hành mau được thành tựu.

5. Ta-bà luân hồi trong sáu nẻo, như bánh xe xoay vòng không có ngày dừng nghỉ; Cực Lạc thì hoa sen hóa sinh, không còn luân chuyển trong đường sinh tử khổ đau.

6. Ta-bà qua lại theo nghiệp chịu quả báo, dù sinh lên cõi Trời nhưng khó tu; Cực Lạc thì danh từ của ba đường ác còn không nghe, huống chi là có thật.

7. Ta-bà trần duyên ác hại, thường làm chướng ngại đối với việc xuất thế; Cực Lạc thì lầu vàng điện ngọc, áo đẹp cơm ngon đều làm phương tiện trợ giúp tu hành.

8. Ta-bà con người sống trăm năm nhưng phần nhiều chết yểu, thời gian mau chóng, đại đạo khó thành; Cực Lạc thì tuổi thọ của chúng sinh ngang bằng với Phật, vô lượng thọ.

9. Ta-bà tu hành phải đoạn trừ thấy sai (kiến hoặc), nghĩ sai (tư hoặc) mới có thể được Bất thoái chuyển. Người mới tu ở Ta Bà khó tránh khỏi sự thoái chuyển đọa lạc; Cực Lạc thì chúng sinh khi sinh về đó đều vào Chính định nên không còn thối chuyển.

10. Ta-bà thờì xa Phật người tu hành trải qua nhiều kiếp khó thành; Cực Lạc thì chỉ một đời thường theo Phật học, tiến thẳng đến đạo tràng, thành tựu đạo giác ngộ Vô Thượng.

Mười điều khó và dễ nói trên đây, cách xa nhau như trời với đất; nếu nương nhờ vào duyên thù thắng thì được sự lợi ích, người tu hành nên chọn lựa!

IV)- DUYÊN CẢN, CHỌN CÁCH TU:

  1. - DUYÊN CẢN TRỞ:

Nếu: hành giả không niệm cho quen từ trước, tới khi sắp qua đời (chết) bị nghiệp báo xuất hiện phá cản, lúc đó hành giả sẽ khó có thể niệm được 10 niệm nhất tâm.

1 – NGHỊCH DUYÊN:

Tất cả những duyên cản trở đều do nghiệp phiền não, nghiệp chướng tạo ra, nếu biết nhẫn nại chịu đựng thì cũng sẽ qua cả. Các việc nằm mơ thấy cảnh dữ, hoặc nhức đầu đau bụng, ngứa ngáy ho khan, ngáp dài hắt hơi v.v..., thường là do chướng nghiệp chướng duyên; có người bị gia đình phá hoại ngăn cản, có kẻ bị bệnh tật, bị nói xấu vu oan, không đáng chê lại bị chê v.v...

- Trong tập Đường Về Cõi Tịnh của Diệu Ngọc Hứa Sa Muồi viết rằng: Có 10 hạng người khi lâm chung không niệm Phật được như sau:

- Nghiệp khổ bức bách, không yên để niệm.

- Không gặp bạn lành, không ai khuyên niệm.

- Trúng phong cứng họng, không niệm được.

- Cuồng loạn mất trí, không thể chú tâm niệm.

- Gặp nạn lửa, nước, mất điềm tĩnh niệm.

- Gặp ác thú độc trùng hại, mất bình tĩnh.

- Bạo bệnh hôn mê qua đời, không kịp niệm.

- Trúng thương chết giữa quân trận không kịp niệm.

- Khi sắp chết bị bạn ác phá hoại lòng tin.

- Tai nạn chết đột ngột, không thể niệm được.

- Trong Niệm Phật Thập Yếu của Thầy Thích Thiện Tâm trang 255 có ghi 10 chướng duyên làm cho không niệm Phật được là:

- Thân đau bệnh.

- Gặp hoạn nạn.

- Sự tu học bị ngăn trở.

- Khi lập hạnh tu, ma chướng phá.

- Mưu sự thất bại.

- Bạn bè phản phúc lãnh đạm.

- Nhiều kẻ chống đối.

- Làm ơn mắc oán.

- Người mưu chiếm lợi danh.

- Chịu nỗi oan ức.

Mười điều trên dùng “không cầu” phá trừ để tu.

2 – THUẬN DUYÊN:

Thuận duyên là những sự khen ngợi, sự giúp đỡ, v.v… Cảnh thuận duyên tuy là tốt, nhưng cũng là chướng đạo, cần phải ý thức, vì nếu không nhận thức nó sẽ âm thầm làm người tu thoái đạo mà không biết; thuận duyên còn đưa đến sự ham thích, kiêu ngạo, sẽ bị đời lôi cuốn vào các việc đời phiền phức, sẽ đưa tới vướng vào chướng nghiệp.

  1. - LỰA CHỌN CÁCH TU:

Người tu Pháp Môn Tịnh Độ niệm Phật A Di Đà, cần phải đọc kỹ, chọn lựa cách tu, ghi nhớ những việc cần phải làm trước khi bắt đầu thực hành, có 4 phương pháp tu như sau:

1 – THIỀN TỊNH: Thiền Quán, niệm Phật

Niệm Phật là chính, thiền quán là phụ, đây là Thiền Tịnh song tu như hổ (cọp) thêm cánh, nhưng lấy vãng sanh làm mục đích chính, ngộ đạo là tùy duyên, ngộ được thì tốt, còn không ngộ cũng không sao; trong 16 pháp quán tưởng, người niệm Phật chọn một pháp quán tưởng thích hợp nhất mà hành trì song song cùng niệm Phật. Như vậy được chắc chắn hơn, và được vãng sinh ở phẩm bậc cao.

Hành giả cứ thế quán tưởng mãi mãi cho đến khi mở mắt nhắm mắt vẫn thấy cảnh quán như trước mắt, mỗi ngày nên thiền quán hai ba giờ hoặc hơn tùy ý; tỷ dụ Quán hình tượng Phật A Di Đà, hành giả đến bàn thờ Phật, nhìn hình Phật màu vàng, có đủ các tướng tốt, cúi đầu lễ lạy tôn kính như Phật hiện trước mặt, nhìn cho thật kỹ từ đầu tới chân, phải nhìn mãi cho nhớ kỹ. Lúc nhìn hình tượng phải cung kính như nhìn Phật thật, lúc nào cũng phải tưởng nhớ như Phật ở trước mặt, dùng hương hoa cung kính lễ bái và nghĩ rằng Ngài biết tất cả những việc mình làm. Ngoài thời gian quán tưởng như thế, thời gian còn lại dùng vào việc niệm Phật A Di Đà.

2 – GIÁO TỊNH: Tụng Kinh, niệm Phật:

Tụng Kinh là phụ, niệm Phật A Di Đà là chính. Tùy chọn tụng các Kinh như: A Di Đà, Kim Cang, Bát Nhã Tâm Kinh, Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Phổ Môn, Phổ Hiền Hạnh Nguyện.

Người niệm Phật chọn Kinh nào thích hợp nhất mà tụng mỗi ngày song song với niệm Phật, công đức tụng Kinh không phải là nhỏ; người chọn Phương pháp tụng Kinh niệm Phật, mỗi ngày một hai giờ tụng Kinh, thời gian còn lại dùng vào việc niệm Phật A Di Đà.

3 – MẬT TỊNH: Trì Chú, niệm Phật

Niệm Phật A Di Đà là chính, trì Chú là phụ, các Chú: Bảy Phật diệt tội, Vãng Sanh Thần Chú, Đại Bi Chú, Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn. Người chọn trì chú niệm Phật phải học thuộc lòng các bài Chú trước khi bắt đầu thực hành, người chọn phương pháp Trì Chú niệm Phật, hàng ngày dành thời giờ trì chú một hay hai giờ tùy ý, công đức trì chú rất lớn. Thời giờ còn lại dùng vào việc niệm Phật A Di Đà.

4 – THUẦN TỊNH: Trì danh niệm Phật:

Người tu phương pháp Trì Danh niệm Phật này chỉ chuyên môn niệm một câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, không cần quán tưởng khó khăn. Chỉ có niệm Phật A Di Đà mà thôi, không xen một thứ nào khác, đây là hạnh thuần tịnh.

Bốn cách trên, cách nào cũng được cả, tùy theo hành giả thích hợp cách nào thì chọn làm theo cách ấy một cách chuyên bền tới cùng, và đọc cho kỹ trước khi chọn cho mình một cách tu thích hợp nhất.