Pháp Môn Tịnh Độ
MỤC V - Những điều nên biết
Pháp Môn Tịnh ĐộMỤC V - Những điều nên biết
I) – NHẬN BIẾT CÁC NỖI KHỔ:
Mọi người đều thấy rõ các nỗi khổ sau đây:
- - SINH RA KHỔ:
Mọi trẻ sơ sinh bình thường đều cùng như nhau, vừa lọt lòng mẹ ra là khóc oa oa, đói khát, nóng lạnh, đau đớn, giật mình v.v.. chỉ biết kêu khóc mà thôi. Đây là báo hiệu ra đời, bắt đầu một cuộc đời đầy khốn khổ, sinh ra khổ còn bao gồm các nỗi khổ trong đời sống hàng ngày, vui ít khổ nhiều, vui ngắn khổ dài v.v...
- - GIÀ ĐI KHỔ:
Dù trai tráng phương phi khoẻ mạnh, dù đẹp đẽ mặn mà đến đâu đi nữa, chỉ thoáng qua một số năm tưởng dài, nhưng qua rồi thấy quá ngắn ngủi, quá mau chóng; khi về già các căn suy kém, mắt mờ tai lãng, kém ăn kém ngủ, da nhăn tóc bạc, lưng mỏi bụng yếu, chân tay run rẩy. Lại còn luôn luôn mệt mỏi, nói chẳng ra hơi, vừa nhớ một việc thoáng một cái liền quên mất! Lâu ngày gặp lại bạn bè, ú ớ chẳng nhớ ra tên! Đi lại chậm chạp mà còn sợ bị té ngã nên phải dùng gậy chống cho chắc ăn v.v... thật là khổ!
- - BỆNH KHỔ:
Không ai tránh khỏi bệnh, có rất nhiều loại bệnh nặng, bệnh nhẹ khác nhau, ngay trong một gia đình, mỗi người một bệnh, lúc đau khi khỏi luôn luôn quanh quẩn trong người; bệnh này vừa khỏi đã tưởng yên thân, ai ngờ bệnh khác tự nhiên ở đâu kéo tới, thật khổ cái thân.
Nói về các bệnh khổ thì có trăm, nghìn bệnh khác nhau, nếu gặp phải các thứ bệnh hiểm nghèo khó chữa như các bệnh liên quan đến bộ máy tiêu hóa, bộ máy tuần hoàn (tim), bộ máy hô hấp, v.v... thì lại càng lo lắng khổ sở hơn.
Nếu xảy ra những bệnh không (chưa) chữa được như bệnh ung thư, bệnh Aid, thấy phải chết đấy mà đành phải cam chịu, thật là khổ! Không tiền chữa bệnh đã khổ cho người bệnh, còn làm khổ lây cho ngươi thân thuộc nữa!
- - CHẾT KHỔ:
Kẻ sắp phải chết khổ muôn phần vì mạng sống sẽ không còn nữa, khi sắp chết thì đau đớn nhức nhối tận xương tủy, rách thịt, xé da, đứt ruột, không ai thay thế được sự khổ sở tận cùng ấy; hãy đến thăm người bệnh sắp chết để thấy rõ tận mắt sự đau đớn khổ sở như thế nào: “Hai mắt trợn ngược kinh hoàng, mặt mũi nhăn nhó, nước mắt ràn rụa, hơi thở hổn hển, toàn thân quằn quại đau đớn tột cùng, miệng rên thảm thiết trước khi lià trần thế!”, thật là sự tận cùng khổ đau của con người! Còn bao nhiêu người thân thuộc yêu quý không dứt ra được mà phải bỏ, với bao nhiêu của cải đã tạo dựng đều phải bỏ lại không mang theo được, thật là khổ!
- - CHIA LY KHỔ:
Yêu thương mà không được ở gần nhau mãi mãi, phải chịu sống trong cảnh chia lià người Nam kẻ Bắc, kẻ Đông người Tây, chờ mong nhớ nhung; người sống ở lại trần gian sầu thương nhớ nhung, kẻ chết đi vào cát bụi không hẹn được ngày tái ngộ, vĩnh viễn chia ly! Cha mẹ, chồng vợ, con cái, anh chị em đều phải trải qua sống trong cảnh chia ly ấy, thật là sầu khổ vô cùng, nói sao cho hết cảnh khổ của chia ly vĩnh biệt này!
- - OAN GIA HỘI NGỘ KHỔ:
Lại có những kẻ nghịch thù oán hận, luôn ở bên mình ta gièm pha xuyên tạc, chống đối mưu hại, bới móc lỗi này tật nọ, nói xấu đủ điều v.v... Dù ta không muốn gần, muốn dứt ra, muốn trốn đi mà chẳng được, cũng giống như có cái gai đâm vào dưới bàn chân, muốn khêu ra, nhổ ra mà không sao lấy ra được, rất là khó chịu; thật là sống trong cảnh khổ khi cứ phải gần gũi với những người tối ngày nhòm ngó người khác để vạch lá tìm sâu! v.v...
- - MONG CẦU KHÔNG ĐƯỢC KHỔ:
Con người có vô số điều mong ước như: muốn có đủ cơm no áo ấm, muốn có nhiều tiền, muốn đẹp, muốn khoẻ, muốn có quyền uy địa vị, muốn có nhà cao cửa rộng, muốn có cái nọ cái kia v.v... mà không được toại nguyện nên khổ. Hoặc vì muốn có cho được những thứ mong cầu ấy, nên phải làm việc cực khổ, vào luồn ra cúi chịu nhục; hoặc dùng mọi thủ đoạn bất chính xấu xa để hòng thỏa mãn mong cầu, do đó tạo tội nên bị bắt phải ở tù, đã không được gì mà còn càng khổ sở hơn
- - NĂM ẤM KHỔ:
Năm ấm là sắc, thụ, tưởng, hành thức, sắc thuộc về thân, thụ, tưởng, hành, thức thuộc về tâm, đây là khổ về thân tâm, điều khổ này bao gồm bảy điều khổ ở trên; thân thì sinh, già, nóng, lạnh, đói, khát, mệt, bệnh, chết khổ, tâm thì buồn giận, lo thương, phiền lụy khổ.
Nếu biết nghĩ đến các điều khổ trên đây, biết nghĩ đến cái khổ của luân hồi, thì phải nghĩ đến sự giải thoát khỏi cái khổ triền miên ấy; vì quanh quẩn luân hồi trong sáu cõi từ cõi Trời tuy hơn cõi Người, nhưng vẫn còn tướng ngũ suy, còn những điều bất như ý, và hết phúc báo lại bị đọa đến cõi dưới. Cõi Thần (A-Tu-La) còn kém cõi trời, cõi Súc vật, ai cũng thấy cảnh khổ của chúng, cảnh cắn xé ăn nuốt lẫn nhau, cảnh bị cõi Người hành hạ, giết hại, ăn thịt. Đến cõi Ma-Qủy thân hình hôi hám xấu xa, bụng thật to lớn, nhưng cổ họng quá nhỏ bé không ăn nuốt được đủ thức ăn cho cái bụng quá to, vì vậy lúc nào cũng đói khát khổ sở; còn cõi Địa-Ngục có bao nhiêu thứ cực hình tra khảo nên đời sống khổ sở vô cùng.
Nếu ý thức được những sự khổ ấy, ý thức được mình đã gặp may mắn được làm người, may mắn được gặp Phật pháp, và lo lắng cho sự mất đi cơ hội tốt này; người niệm Phật còn phải lo lắng về sự vô thường (chết) đến với mình bất cứ lúc nào, thì việc niệm Phật mới có cơ nguyên thúc đẩy và làm bàn đạp cho sự dẹp bỏ tất cả để dũng mãnh niệm Phật.
II) - NHẬN BIẾT VỀ NGHIỆP QUẢ:
Tất cả những hành động từ thân, khẩu, ý đều tạo nghiệp; tuy nhiên, những hành động không thiện không ác không tạo nghiệp, và những hành động không có ý muốn cũng không tạo nghiệp, nghiệp báo nhân quả thuộc về tâm thức, nó vô hình không thấy được, nhưng nó điều khiển cả vật chất lẫn tinh thần.
Muốn thoát khỏi luân hồi, phải thoát khỏi nghiệp báo nhân quả, muốn thoát khỏi nghiệp quả, phải trừ bỏ nghiệp xấu, muốn trừ bỏ nghiệp xấu phải trừ hết ái dục, ái dục là vi tế ngủ ngầm của tham sân si, tức là phải sạch hết “Vô minh” mới được giải thoát.
Nếu không tu, hết kiếp làm người hiện tại, nếu không giữ đủ 5 giới: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối nói hai chiều nói thêu dệt nói ác, và không uống rượu, sẽ không được trở lại làm người nữa. Bởi vậy một người bình thường không tu hành, chắc chắn phần nhiều đọa vào ba cõi dữ:
- – ĐỌA NGẠ QUỶ:
Những người bề ngoài bình thường phần lớn khi chết đọa Ngạ quỷ, vì phần lớn những người này có tính bỏn sẻn, ganh tị, đố kị, tham lam, mưu mô đạt của người, giành giật, v.v... có vô số loại Ma Quỷ hiền ác khác nhau trong thế giới Ma Quỷ.
- – ĐỌA SÚC SINH:
Những người dâm dục ngang trái, người quỵt nợ, giật hụi, lừa đảo, biển thủ tiền của, người kiêu ngạo ngã mạn, người đánh đập hành hạ giết hại súc vật, người sớm tối say sưa rượu hoặc ma túy, v.v... Khi chết sinh vào loài Súc sinh bị khổ sở trăm bề mà ai cũng thấy.
- – ĐỌA ĐỊA NGỤC:
Người giết cha giết mẹ, người làm nhiều điều ác v.v… chắc chắn đọa địa ngục nhanh như liệng mũi kiếm thẳng xuống nước ngay sau khi chết; ở địa ngục thời gian lâu dài chịu cực hình khốn khổ trăm bề, khi ra khỏi địa ngục, lại phải vào Ngạ qủy hoặc Súc sinh, khi trở lại làm người có đời sống nghèo khổ.
Cứ xem các nhà Ngoại cảm thấy bao nhiêu hồn người chết trong thời chiến tranh và chết từ rất lâu đời rồi đều là Ngạ quỷ cả, chẳng phải hồn người chết còn vưởng vất chưa đi tái sinh đâu; họ đã tái sinh sau khi chết trong vòng 49 ngày vào cõi Ngạ quỷ, đừng tưởng rằng đó là những hồn còn vất vưởng mà lầm.
Khi đã bị đọa vào ba cõi dữ rồi, khó có ngày ra khỏi, trong tập Vãng Sanh Tịnh Độ của Bác Sĩ Nguyễn Thanh Giản, trang 44 có giải thích như sau: “Nếu ta là một Ngạ quỷ thì vì ta đói khát nên ta lại phạm giới chiếm đoạt thức ăn của kẻ khác. Nếu ta là một Súc sinh, thí dụ một con cọp chẳng hạn lại vồ giết chết con vật khác và lại đi sâu vào con đường đọa lạc, con cọp đó có biết rằng kiếp trước nó chính là ta (người) đây không?”
Mong thoát ba cõi dữ được thân người lại là một điều rất khó trong các điều khó, trong quyển Đường về Cực Lạc của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh, trang 560 có giải thích bằng thí dụ:
Khi Tôn giả Xá Lợi Phất vâng lời Phật, đi giúp Trưởng giả Cấp Cô Độc xây dựng Tịnh xá Kỳ Hoàn tại nước Xá Vệ. Một hôm, Tôn giả bỗng than thở bùi ngùi, Ông Cấp Cô Độc thấy thế hỏi, Tôn giả chỉ vào một con kiến đang bò mà nói: “Tôi nhờ huệ nhãn biết rằng con kiến đen đã trải qua bảy Phật ra đời rồi mà con kiến này vẫn còn luân hồi mãi vô lượng đời là kiến, chính là con kiến đen đang bò trên đất đây; nghĩ mà xót thương cho chúng sanh mê muội muôn kiếp trầm luân, nên tôi than thở”; xem như vậy, không dễ gì ra khỏi cõi xấu, trải qua bao nhiêu kiếp rồi, con kiến ấy vẫn tái sinh vô lượng kiếp là kiến, vì nó chấp vào thân xác kiến, nó cho rằng làm kiến là sướng nhất rồi, nó chỉ muốn được làm kiến, nên cứ thế luân hồi mãi trong thân kiến như thế.
Đối với chúng ta, nhiều người không ý thức được rõ ràng cảnh khổ trần gian, không nhận chân được sự già mau chóng, không thấy rõ như thật bệnh tật chết chóc; cho rằng cuộc sống ở đời không gì hơn nên họ bám viú dính mắc đam mê trong cõi người này. Nói đến tu hành: nhiều người dửng dưng hờ hững vì sợ khó, vì lười biếng; họ lại ít chú ý đến việc làm lành tránh làm ác để giảm bớt nghiệp dữ và vun bồi phúc đức, khi chết không những không được tái sinh làm người mà còn bị đọa vào ba cõi dữ nữa.
Mặc dù vậy, người tu Tịnh Độ không cần phải trừ sạch hết nghiệp vẫn được vãng sinh nếu thực hành đầy đủ ba điều căn bản là “Tín sâu, nguyện thiết, niệm siêng”, tại sao lại được vãng sinh? Vì nhờ có tự lực “Tín sâu nguyện thiết niệm siêng” cộng với tha lực của Phật A Di Đà, nên có thể mang theo nghiệp mà vãng sinh (Đới (mang) nghiệp vãng sanh). Bởi vì bậc Hạ phẩm Trung sinh đều là người còn nghiệp vãng sinh, và Hạ phẩm Hạ sanh đều là người có nghiệp nặng vãng sinh, do sự thiết tha tu trì kiên cố mà được vậy.
III) – ĐỐI TRỊ PHIỀN NÃO:
- - SÂN HẬN:
Sân hận rất thô bạo, nên người xưa bảo:
“Nhất niệm sân tâm khởi,
Bá vạn chướng môn khai.”
Nghĩa là khi sinh ra một lần tức giận, sẽ đẻ ra trăm vạn điều khó khăn nguy nan. Tỉ dụ người đang niệm Phật sực nhớ tới một người phản phúc mình về một việc gì, làm mình tức giận, nên thôi niệm, suy nghĩ mãi về việc ấy, đến ăn ngủ cũng không được, Rồi nghĩ cách báo thù, trả miếng v.v..., tâm sân nó phá hại người tu đến như thế.
Đối trị bằng “Từ Bi Hỉ Xả”, nghĩ kẻ đó vì mê muội không biết nên đã tạo quả xấu, người đó đáng thương hơn là đáng giận; nếu người đó biết, sẽ không hành động như thế, nên ta xả bỏ để tu hành.
- - ÁI DỤC:
a)- QUAN NIỆM ÁI DỤC:
Người niệm Phật phải biết ái dục là cội gốc của sanh tử luân hồi, ngày nay dốc lòng niệm Phật, thì niệm niệm phải đoạn ái căn, từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, đến ý đều phải chấm dứt các dính mắc, ràng buộc, ô nhiễm.
Trong cuộc sống hằng ngày, ở nhà niệm Phật, mắt thấy vợ chồng con cháu, gia quyến tài sản, đều không nên đắm trước ái nhiễm; nếu để tâm thức mình còn yêu ghét ham mê thì dù làm việc gì, niệm Phật nào cũng đều vì sanh tử, giống như toàn thân đang đứng trong hầm lửa vậy.
Lúc chưa biết cách niệm Phật chân chính, ái dục trong tâm chưa có thể xả bỏ, vì chẳng biết ái dục là chủ tể, nên chỉ niệm Phật ngoài miệng, và như thế tuy Phật có nghe niệm, nhưng ái dục vẫn hoành hành tăng trưởng thêm, và khi sắp chết chỉ thấy gốc ái dục sinh tử hiện ra thôi.
Khi vợ chồng con cháu hiện diện, phải xoay nhìn vào tâm. Nếu một danh hiệu Phật có thể đối địch với ái dục, thì sẽ cắt đoạn được ái căn; nếu không cắt được ái dục, làm sao đoạn được sanh tử đây?
Do tập khí của duyên ái trong bao đời đã chín mùi mà nay chỉ mới bắt đầu niệm Phật, lại không tha thiết niệm, thì không thể đắc lực được. Nếu trước mắt không thể kìm chế được ái cảnh, khi lâm chung quyết không thể tự làm chủ được mình.
Ái dục là do “Ngũ dục, lục trần” mà có:
- Ngũ dục là: Sắc dục, tiền của, quyền danh, ăn mặc, ngủ nghỉ, chúng luôn theo ta như hình với bóng.
- Lục trần là: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chúng luôn quanh quẩn bên ta không lúc nào rời khỏi.
b)- ĐỐI TRỊ ÁI DỤC:
Thân tâm cảnh duyên nhau khởi ái như cát bụi, làm xao động bên trong, cho nên muốn trừ ái dục, chúng ta phải dùng 4 cách:
1- Bất tịnh:
Thân tâm cảnh vật chẳng có gì đáng ưa, chẳng có gì đáng quý, chẳng có gì luyến ái được vì:
- Thân: Thân thể có 9 lỗ không sạch, luôn luôn tiết ra chất hôi thối nên chẳng có gì là đáng ưa thích thân mình và người
- Tâm: Tâm bị tham sân si luôn luôn tham nhiễm thói hư tật xấu nên không sạch chẳng đáng ưa quý.
- Cảnh: Cảnh vật sỏi đá đất bùn gò đống, lại chứa đầy chúng sanh ô uế nên cảnh cũng chẳng sạch.
2- Khổ:
Đâu có gì gọi là sướng, bởi:
- Thân khổ vì sinh già bệnh chết, nóng lạnh cực nhọc khổ sở trăm bề.
- Tâm khổ vì phiền não đủ thứ chuyện.
- Cảnh khổ vì mưa nắng nóng lạnh, chúng sinh vất vả cực khổ để mưu sinh sống.
3- Vô thường:
Chẳng có gì được bền lâu vì:
- Thân sinh già bệnh chết thay đổi vô thường.
- Tâm thay đổi khi buồn khi vui, chẳng cố định.
- Cảnh thay đổi có rồi mất chẳng bền vững.
4- Vô ngã:
Chẳng thể gọi là ngã là ta được vì:
- Thân hư huyển không thật nay trẻ mai già chết thành đất, chẳng có gì gọi là ta được.
- Tâm hư huyển không thật nay thế này mai thế khác, vui buồn đến rồi đi, chẳng phải vĩnh cửu, nên vô ngã.
- Cảnh cũng là mộng huyển, có đó rồi mất đó, hiện mất như giấc chiêm bao, chẳng thể gọi là cái của ta được.
Người xưa nói: “Ái không nặng không sinh ở Ta Bà, ái chẳng đoạn chẳng sinh về Cực Lạc”, Ở Ta Bà khi chết có một niệm ái (yêu) còn bị nó lôi kéo, huống gì nhiều ái. Hãy để ý mà xem nào là cha mẹ vợ chồng con cháu, anh em họ hàng bạn bè, công danh phú quý, văn chương thi phú, nhà cửa ruộng vườn, v.v..., tất cả đều là gốc sinh tử. Nếu còn yêu nhớ là còn ái, còn một niệm ái thì niệm Phật không chuyên nhất, niệm không chuyên nhất sẽ không sinh Tịnh độ được; muốn cho nhẹ ái không gì bằng đoạn dứt ngoại duyên ngoại cảnh, hễ duyên cảnh đều không, tự nhiên sẽ được nhất tâm.
Đoạn dứt ngoại cảnh chẳng phải trừ dẹp muôn cảnh, chẳng phải nhắm mắt không nhìn, mà phải ngay cảnh biết cảnh hư vọng, thấu suốt vạn pháp vốn tự không, nếu thấy có, đó là vọng tình; vọng tình còn thì vật còn, vạn pháp (vật) không thì bản tánh hiển bày, bản tánh hiển bày thì vọng niệm tình dứt, bấy giờ sẽ thành tựu được nhất niệm.
Đại sư Hành Sách nói: “Thời nay nhiều ngưòi tu niệm Phật, sám hối phát nguyện, mà Tây phương còn xa vời, không bảo đảm vãng sanh, không có lý do gì khác bởi cọc ái (luyến yêu) chưa nhổ, sợi dây tình còn buộc chặt. Nếu có thể xem sự ân ái nơi Ta Bà như nhai sáp, chỉ phấn khởi niệm như Ỷ thiên trường kiếm, khiến cho tất cả ái ân tình thức, phiền não ma quân bị chặt đứt tiêu tan. Ngưòi này tuy đang ở cõi đời ngũ trược (năm trọc: 1. Kiếp trọc: Bệnh, đói, chiến tranh khủng bố; 2. Kiến trọc: Tà kiến thịnh hành; 3. Phiền não trọc: Tham dục và phiền não; 4. Chúng sinh trọc: Chúng sanh không theo luân lý, không sợ quả báo; 5. Mệnh trọc: Thọ mạng con ngưòi ngắn), mà đã ngồi trong thế giới Liên Hoa (Hoa Sen), đâu phải đợi Phật A Di Đà tới nắm tay, Quán Âm tiếp đón nữa”.
- – NGÃ CHẤP:
Chấp ngã tức là cho rằng có cái ta là thật (thân này là cuả ta, nếu ai xúc phạm nhẹ tới ta, không chấp nhận được v.v…), cho rằng có cái của ta là thật (đồ vật, cuả cải, tiền bạc v.v.. của ta không ai xâm phạm được).
Phá ngã chấp bằng cách thấy thân này mai sau chết đi sẽ trở thành cát bụi; hoặc thấy thân này vốn kết hợp bởi: “đất, nước, gió, lửa”, mà tự tánh của bốn thứ đó là không, nên thân này đâu có gì là ta, đâu phải thật là ta. Nhưng vì bị ngã ái sai khiến do sắc thọ tưởng hành thức chi phối, nên tưởng rằng có cái ngã cái ta.
Cái thân luôn biến đổi vì bốn thành phần cấu tạo nên thân là “đất, nước, gió, lửa” luôn luôn thay đổi; cái tâm thay đổi vì bốn thành phần tạo nên tâm là “Thụ, tưởng, hành, thức” thay đổi; tâm thay đổi ví như một dòng sông lớn luôn luôn tiếp nhận những thành phần mới của năm nhánh suối sông từ thượng lưu của năm giác quan mắt tai mũi lưỡi thân ý cung cấp những sự kiện mới của đời sống hàng ngày; nhưng những hạng phàm phu lầm nhận sự liên tục giả tạo bên ngoài như cái gì bền vững vĩnh viễn không thay đổi.
Nếu hiểu cái ta là không thật, nó là vô thường, khổ, vô ngã, không, biết cái thân tâm ta chỉ là giả hợp mà có đi đứng, ăn uống, nói năng, hành động, do nhân duyên hợp nên có, hết nhân hết duyên chẳng còn gì. Thấy biết như thật như thế, ai nói thân ta xấu, lời dở, ý sai, cũng chẳng tức giận buồn phiền; có ai khen ta đẹp lời hay ý đúng, cũng chẳng hãnh diện mừng vui. Đó là người gạt bỏ được chấp ngã, sống đời an nhiên bình thản ngoài sự được mất, vinh nhục, hơn thua, vui buồn ở đời.
Nếu không còn chấp ngã sẽ dễ nhẫn nại trước mọi chướng duyên, thường chỉ thấy lỗi mình, không thấy lỗi người, không chê bai người, khiêm cung tôn kính mọi người, xét từng tâm niệm cử chỉ hành động của mình để tự sửa sai, vì một lỗ rỉ nhỏ làm đắm thuyền to, đây là linh dược của người tu phải để ý kỹ; người không còn ngã chấp là người không còn dao động trước những tiếng thị phi như ngọn núi đứng vững giữa giông tố vậy.
IV) - HÔN TRẦM, VỌNG TƯỞNG:
- – HÔN TRẦM:
Hôn trầm là lúc mê mờ, buồn ngủ, câu niệm vẫn có, tâm tư êm dịu, chìm lặng quên cả nóng bức ruồi muỗi, có khi mồ hôi ướt cả áo cũng không hay, lúc chợt tỉnh mới thấy nóng; như vậy, đừng tưởng là công phu niệm Phật tốt, mà thật ra đó là rơi vào hôn trầm. Trường hợp này phải niệm to lên để phá u u tịch tịch của hôn trầm, nên biết, khi sắp hôn trầm, một loại tạp tưởng nhỏ nhiệm (vi tế) nổi lên, hành giả cảm biết có một điểm mê mờ từ sau gáy (ót) truyền lên đỉnh đầu làm cho đầu gục xuống, rồi xuống hai mắt, làm cho mắt nhắm lại, và sau nữa là vào tâm tạng làm tâm mê mờ. Đối trị hôn trầm vi tế bằng cách niệm to hoặc niệm sổ tức (vừa niệm vừa đếm hơi thở vào ra), hoặc lễ bái niệm Phật.
- – VỌNG TƯỞNG:
Cội gốc sinh tử là mọi thứ vọng tưỏng hàng ngày của chúng ta, các thứ nghiệp phiền não, nhân ngã, yêu ghét, tham dục, nóng giận, si mê sắc đẹp tiếng hay, ăn ngon mặc đẹp, v.v…, nếu còn một chút chưa đoạn dứt là còn cội gốc sanh tử.
Khi hành giả vẫn niệm, nhưng tâm lại nghĩ chuyện khác, nhớ nghĩ đủ thứ, đó là tán loạn vọng tưởng; khi mới tu chỉ thấy vọng tưởng “thô”, còn tu lâu mới thấy vọng tưởng “tế” (nhỏ nhiệm) Đối trị tán loạn vọng tưởng bằng cách ngồi nhiếp tâm niệm Phật, hoặc miệng niệm tai phải nghe rõ, hoặc niệm sổ tức. Vì không đủ phước báu nên suốt ngày vọng tưởng, suy nghĩ lung tung.
Tại sao những người bình thường thích tìm hiểu suy nghĩ lung tung? Đa số chúng ta thuộc loại người này, loại người nhiều rắc rối, cho nên đức Phật suốt 45 năm khó nhọc, mỗi ngày không ngừng nói pháp cũng vì những người nhiều rắc rối như chúng ta. Nếu chúng ta đã hiểu rõ rồi thì phải biết buông xả, không còn suy nghĩ tưởng nhớ việc nọ chuyện kia nữa, chỉ còn nhớ niệm một câu: Nam Mô A Di Đà Phật. Ngoài câu niệm Nam Mô A Di Đà Phật ra, không cho khởi biệt niệm, tức là không được suy tính một việc gì khác, mà chỉ luôn luôn niệm.
Nếu vọng tưởng đã khởi lên rồi, không cho đè nén vọng tưởng, không cho kìm chế vọng tưởng (ý nghĩ, tư tưởng tự nhiên khởi lên trong đầu óc); không cho đè nén trừ diệt vọng tưởng (cố đè nén không cho tư tưởng khởi lên), vì đè nén kìm chế vọng niệm dễ bị căng thẳng, nhức đầu; không cho buông bỏ vọng tưởng (phải biết vọng tưởng khởi lên), vọng tưởng khởi lên bao nhiêu cũng được, nhưng phải biết nó khởi lên và biết nó không thật. Khi niệm Phật thì chính câu Nam Mô A Di Đà Phật làm cho vọng tưởng không khởi lên được.
Để trừ bớt sinh khởi vọng tưởng, chúng ta nên tu tuệ ở chỗ quán tâm, tu phúc ở nơi vạn hạnh; quán tâm lấy niệm Phật làm bậc nhất, vạn hạnh lấy cúng dường Tam Bảo làm trước tiên, hai điều ấy bao gồm hết thảy. Mọi sinh hoạt hàng ngày khởi tâm động niệm đều là vọng tưởng, gốc của sinh tử, nên chuốc lấy quả báo khổ; bây giờ đem tâm vọng tưởng đổi thành niệm Phật thì mỗi niệm đều là hạt giống của nhân Tịnh độ, đó là quả báo vui. Khi vọng tưởng bị tiêu diệt, niệm Phật không gián đoạn, ánh sáng của tâm hiển lộ, trí tuệ hiện tiền thì thành tựu Pháp thân Phật.
Đừng đuổi tìm hư danh, đừng chấp vào cái thấy không, đừng ham cao siêu huyền diệu, chớ cầu hiệu nghiệm nhanh chóng, vọng tưởng trông mong ngoài tâm có Phật đến đón, như vậy dễ đưa đến các việc ma; thường lấy niệm Phật làm chính hạnh, dùng sự cố gắng tu các điều lành làm trợ hạnh.