Pháp Môn Tịnh Độ

MỤC II

Pháp Môn Tịnh ĐộMỤC II

LƯỢC KINH

I) – KINH VÔ LƯỢNG THỌ:

ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI NÓI KINH

Một thời đức Phật ngự tại núi Kỳ Xà Quật thuộc thành La Duyệt, nước Ma Kiệt cùng 1250 Tỳ Kheo, có đông đảo chúng Bồ Tát, các Vua Trời, và Thiên Long Bát Bộ. Lúc bấy giờ sắc diện của đức Thế Tôn vui vẻ tươi sáng. Tôn giả A Nan Đà từ chỗ ngồi đứng lên, quỳ gối phải chắp tay bạch đức Phật rằng:

- Bạch đức Thế Tôn! Hôm nay sắc diện của Ngài vui vẻ tươi sáng chưa từng được thấy, có phải Ngàinghĩ nhớ đến Chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại chăng?

Đức Phật dạy:

- Lành thay, lành thay! Này A Nan: Ông phát trí tuệ hỏi được Như Lai việc ấy, Ông là Đại Sĩ hi hữu như hoa Ưu Đàm (1) xuất hiện ở thế gian, có lòng vì lợi ích chúng sanh, nên thưa hỏi việc ấy.

Nầy A Nan, Như Lai Chính Đẳng Chính Giác hay khai thị vô lượng tri kiến, tại sao? Vì Như Lai tri kiến (biết thấy) vô chướng vô ngại, Như Lai, nếu muốn ở thế gian, có thể ở đến vô lượng vô số trăm ngàn ức na do tha kiếp (vô số kiếp) mà thân thể của Như Lai và các căn vẫn không tổn giảm, tại sao? Vì Như Lai được tam muội (tịch tịnh) tự tại rốt ráo; này A Nan, Ông hãy lắng nghe, khéo suy nghĩ, Ta sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.

Tôn giả A Nan thưa:

- Vâng! Bạch Thế Tôn! Con mong muốn được nghe đức Thế Tôn chỉ dạy.

Đức Phật bảo:

- Thuở xưa, quá a tăng kỳ vô số đại kiếp, có Phật xuất thế hiệu là Nhiên Đăng Như Lai giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh. Sau đó có Quang Viễn Phật, Nguyệt Quang Phật, Chiên Đàn Hương Phật, v.v... hết thảy 52 vị Phật nối tiếp ra đời.

Kế sau đó có đức Phật hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn (10 tên hiệu của chư Phật (3)).

Lúc đó có Quốc Vương nghe đức Phật thuyết pháp lòng rất vui đẹp phát tâm Vô thượng Bồ đề, từ bỏ ngôi vua xuất gia làm Tỳ Kheo hiệu là Pháp Tạng, đến cúi lễ đức Phật Thế Tự Tại Vương, đi quanh bên phải ba vòng, quỳ chắp tay nói kệ ca tụng Phật xong bạch:

“- Bạch đức Thế Tôn, con đã phát tâm Vô t phhượng Chính giác, xin đức Thế Tôn nói kinh pháp cho, con sẽ tu hành nhiếp lấy cõi Phật vô lượng thanh tịnh trang nghiêm. Khiến con mau thành bực Chánh giác nhổ hết gốc rễ sinh tử khổ lụy.”

Thế Tự Tại Vương Như Lai nói với Tỳ Kheo Pháp Tạng rằng: “- Công hạnh tu hành trang nghiêm Phật độ, ông tự biết lấy.”

Tỳ Kheo Pháp Tạng thưa:

“- Bạch đức Thế Tôn, Nghĩa ấy sâu rộng chẳng phải cảnh giới của con, ngưỡng mong đức Thế Tôn chỉ dạy công hạnh Tịnh độ của Chư Phật. Con được nghe rồi sẽ y theo tu hành để hoàn thành sở nguyện.”

Lúc ấy đức Phật Thế Tự Tại Vương biết Tỳ Kheo Pháp Tạng có chí nguyện sâu rộng liền giảng dạy:

“- Ví như biển cả kia, có một người lấy đấu múc nước trải qua vô lượng kiếp, còn có thể cạn đến đáy, được châu báu vi diệu; có người chí tâm tinh tiến cầu đạo chẳng thôi, tất sẽ kết quả, có nguyện gì mà chẳng được thành.”

Rồi đức Thế Tự Tại Vương Phật nói rộng hai trăm mười ức quốc độ Chư Phật (21 triệu cõi Phật), những là sự thiện ác của hàng trời người, những sự xấu tốt của các cõi nước, và ứng theo tâm nguyện của Tỳ Kheo Pháp Tạng mà hiện rõ ra cho thấy cả.

Nghe và thấy các quốc độ nghiêm tịnh, Tỳ Kheo Pháp Tạng phát khởi thệ nguyện thù thắng vô thượng, tâm Ngài tịch tịnh, trí rỗng rang, tất cả thế gian không có ai bằng; trọn đủ năm kiếp, Ngài suy xét nhiếp lấy công hạnh trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật.

Ngài A Nan thưa:

- Bạch đức Thế Tôn, Người cõi Phật xưa ấy thọ mạng bao lâu?

Đức Phật nói:

- Nầy A Nan, Đức Phật Thế Tự Tại Vương thọ mạng bốn mươi hai kiếp.

Thuở ấy, Tỷ Kheo Pháp Tạng nhiếp lấy công hạnh thanh tịnh trang nghiêm hai trăm mười ức cõi Phật và tu tập xong, Ngài đến trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai cúi lạy chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng chắp tay đứng bạch rằng: “- Bạch đức Thế Tôn con đã nhiếp trì công hạnh trang nghiêm thanh tịnh cõi Phật.”

Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai nói: “- Nay Ông nên trình bày chi tiết, Ông phải biết phát khởi đúng lúc, và làm vui đẹp tất cả chúng sinh; Bồ Tát tu hành pháp ấy thì sẽ đầy đủ vô lượng đại nguyện.”

Tỳ Kheo Pháp Tạng thưa:

“- Bạch Đức Thế Tôn, con mong được xét soi, con sẽ trình rõ những điều phát nguyện sau đây:”

GIẢNG GIẢI:

1)- Vô lượng Thọ: Dịch từ chữ Phạn (Sanskrit): Amitayus là sống vô cùng lâu dài, như vài chục tỷ năm.

2)- Hoa Ưu Đàm: Dịch từ chữ Phạn (Sanskrit): Udumbara dịch nghĩa là Linh thụy, là điềm lành linh ứng; hoa này khó thấy, rất quý hiếm.

3)- Nghĩa 10 danh hiệu của Chư Phật như sau:

01 - Như Lai: Bậc Chính Đẳng Chính Giác, Phật vốn không từ đâu lại và cũng chẳng đi về đâu, đó là Như Lai.

02 - Ứng Cúng: Đầy đủ chính pháp vi diệu, xứng đáng hưởng cúng dường của Người, và Trời.

03 - Chính Biến Tri: Dịch theo âm là Tam Miểu Tam Phật Đà, nghĩa là biết rõ hai đế lý: Lý thế gian (Thế đế), là lý tương đối, và lý chân thật (Chân đế) là lý tuyệt đối bình đẳng.

04 - Minh Hạnh Túc: Giữ gìn tịnh giới thanh tịnh, đầy đủ Tam Minh (Túc mệnh minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh).

05 - Thiện Thệ: Không còn sinh trong ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc giới nữa.

06 - Thế Gian Giải: Là biết hết thế gian nhân sinh và vũ trụ.

07 - Vô Thượng Sĩ: Đấng tối cao không ai vượt qua.

08 - Điều Ngự Trượng Phu: Biết rõ phương tiện điều phục chúng sinh.

09 - Thiên Nhân Sư: Khiến Trời Người không khởi lòng khiếp sợ, giáo hóa cho lìa khổ được vui.

10 - Phật Thế Tôn: Bậc giác ngộ được người và Trời tôn kính.

II) - BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN

Của Bồ Tát Pháp Tạng, tức Phật A Di Đà:

1). Khi tôi tu thành Phật, cõi nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thì tôi không lên ngôi chính giác (thành Phật).

2). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi sau khi mạng chung còn phải đọa vào ba đường ác thì tôi không lên ngôi chính giác.

3). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu không có thân màu vàng óng ánh thì tôi không lên ngôi chính giác.

4). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu còn có kẻ xấu người đẹp thì tôi không lên ngôi chính giác (mọi người đều đẹp).

5). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng biết túc mệnh thông (biết vô số đời về trước), tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha (vô số, vô lượng) kiếp, nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

6). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng có thiên nhãn (nhìn thấu suốt không ngăn ngại), tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật, nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

7). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng có thiên nhĩ (nghe thấu suốt không ngăn ngại), thì cũng nghe và thụ trì trăm ngàn ức na do tha lời thuyết pháp của chư Phật. Nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

8). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng được tha tâm thông (biết ý nghĩ của người khác), thì cũng biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha thế giới; nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

9). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng được thần túc (biến hóa vô lường), thì cũng khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước Phật. Nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

10). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu sinh lòng tham chấp thân thể (chấp ngã) thì tôi không lên ngôi chính giác.

11). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng được an trụ chính định (tịch tịnh) thì tôi không lên ngôi chính giác.

12). Khi tôi tu thành Phật, nếu ánh sáng còn bị hạn chế, chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha (soi thấu 10 phương) cõi nước chư Phật thì tôi không lên ngôi chính giác.

13). Khi tôi tu thành Phật, mệnh sống còn có hạn lượng, tối thiểu cũng thọ đến trăm ngàn ức na do tha kiếp (vô lượng kiếp); nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

14). Khi tôi tu thành Phật, hàng Thinh Văn trong cõi nước tôi không thể tính đếm hết được, cho đến chúng sinh trong cõi Đại Thiên (1 tỉ mặt trời) thành bực Duyên Giác cùng nhau đếm suốt trăm nghìn kiếp mới hết; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

15). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi thọ mệnh không hạn lượng (sống vô lượng thọ), nếu chẳng như vậy tôi không lên ngôi chính giác.

16). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu còn nghe danh từ bất thiện (việc ác) thì tôi không lên ngôi chính giác.

17). Khi tôi tu thành Phật, mười phương vô lượng Chư Phật nếu chẳng ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi không lên ngôi chính giác.

18). Khi tôi tu thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm muốn sinh về cõi nước tôi, chỉ niệm danh hiệu tôi cho đến mười niệm; nếu chẳng được như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

19). Khi tôi tu thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề (tỉnh thức, giác ngộ, tâm Phật), tu các công đức, chí tâm phát nguyện muốn sanh về cõi nước tôi. Nếu lúc mạng chung, tôi và đại chúng không vây quanh hiện ra trước mặt người ấy, thì tôi không lên ngôi chính giác.

20). Khi tôi tu thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu tôi, chuyên nhớ tôi, tu các công đức, cầu vãng sinh về cõi nước tôi mà chẳng được toại nguyện, tôi không lên ngôi chính giác.

21). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi nếu chẳng đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhân (tướng tốt đặc biệt) thì tôi không lên ngôi chính giác.

22). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở cõi nước khác sinh về cõi nước tôi đều đến bực nhứt sinh bổ xứ (một đời thành Phật). Trừ người tự nguyện hóa độ chúng sanh, qua các cõi nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa vô lượng chúng sinh khiến họ ở nơi đạo vô thượng, vượt công hạnh của bậc thông thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền (trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt); nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

23). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường Chư Phật mười phương, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng cõi Phật thì tôi không lên ngôi chính giác.

24). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát trong cõi nước tôi khi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi không lên ngôi chính giác.

25). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát trong nước tôi nếu chẳng thể diễn nói Nhầt Thiết Trí (trí sáng suốt biết mọi việc) thì tôi không lên ngôi chính giác.

26). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát trong nước tôi nếu chẳng được thân Kim Cương Na la Diên (thân bất hoại) thì tôi không lên ngôi chính giác.

27). Khi tôi tu thành Phật, người dân và tất cả vạn vật trong cõi nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt tột diệu không ai lường biết hết được, dù là có Thiên nhãn mà tính đếm được hết danh số ấy thì tôi không lên ngôi chính giác.

28). Khi tôi tu thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, dù người công đức ít nhất cũng thấy biết đạo tràng có màu sáng vô lượng, cao bốn trăm muôn dặm (4triệu), nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

29). Khi tôi tu thành Phật, nếu ai trong cõi nước tôi đọc tụng thọ trì diễn thuyết Kinh Pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi không lên ngôi chính giác.

30). Khi tôi tu thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi không lên ngôi chính giác.

31). Khi tôi tu thành Phật, cõi nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

32). Khi tôi tu thành Phật, từ mặt đất cho đến những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong cõi nước tôi đều toàn bằng châu báu, trăm ngàn thứ hương hoa xinh đẹp kỳ lạ. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương, các Bồ Tát ngửi mùi hương ấy đều tu hạnh của Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

33). Khi tôi tu thành Phật, chúng sanh trong vô lượng thế giới mười phương, được hào quang tôi chiếu đến, thân họ được nhẹ nhàng khoan khoái dễ chịu; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

34). Khi tôi tu thành Phật, chúng sanh trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi trong khi tu hành, nếu chẳng được Vô Sinh Pháp Nhẫn (thể nhập lý vô sinh) cùng các môn Thần chú, tôi không lên ngôi chính giác.

35). Khi tôi tu thành Phật, hàng nữ nhân trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề, nhàm chán thân nữ; nếu sau khi chết còn sinh lại thân người nữ, tôi không lên ngôi chính giác.

36). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi, thường tu phạm hạnh (khuôn phép) cho đến thành Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác

37). Khi tôi tu thành Phật, hàng Trời Người trong vô lượng thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi, tin ưa vui mừng, cúi đầu vái lạy, năm vóc gieo xuống đất, tu hạnh Bồ Tát, được chư Thiên và người đời kính trọng; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

38). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi muốn có y phục liền tùy nguyện hiện đến trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt, tôi không lên ngôi chính giác.

39). Khi tôi tu thành Phật, người dân trong cõi nước tôi hưởng thụ sung sướng nếu chẳng như ý, tôi không lên ngôi chính giác.

40). Khi tôi tu thành Phật, Bồ Tát cõi nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng cõi nước Phật mười phương liền được toại nguyện; nếu chẳng được vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

41). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ tốt đẹp. tôi không lên ngôi chính giác.

42). Khi tôi tu thành Phật, chúng Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được Giải Thoát Tam Muội (tịch tịnh), khoảng một suy nghĩ, cúng dường vô lượng chư Phật mà không mất chánh định; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

43). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi, sau khi mệnh chung được sinh vào nhà tôn quý; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

  1. . Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, đầy đủ công đức; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

45). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được các thứ Chính Định, ở trong Chính Định ấy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng chư Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

46). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở trong cõi nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp nào liền tự nhiên được nghe pháp ấy; nếu chẳng như vậy, tôi không lên ngôi chính giác.

47). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi, nếu chẳng được đến bực Bất Thoái Chuyển (bậc Đẳng Giác), tôi không lên ngôi chính giác.

48). Khi tôi tu thành Phật, các Bồ Tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi, nếu chẳng được đệ nhứt Âm Hưởng Nhẫn (thể nhập mọi tiếng nói), đệ nhị Nhu Hòa Nhẫn (thể nhập hoà đồng) và đệ tam Vô Sinh Pháp Nhẫn (thể nhập lý vô sinh), thì tôi không lên ngôi chính giác.

GIẢNG GIẢI:

Theo sự tích, chúng ta được biết tiền thân của đức Phật A Di Đà đã trải qua nhiều đời nhiều kiếp cúng dàng Chư Phật và tu hành rồi. Các kiếp trước đều có những lời phát nguyện, nhưng không nhiều như lần gặp đức Phật Tự Tại Vương trong Kinh Phật Vô Lượng Thọ nêu trên trong một kiếp về sau với 48 lời phát nguyện thật là rộng lớn vĩ đại.

Sau khi phát 48 đại thệ nguyên như trên, Bồ Tát Pháp Tạng chuyên chú tu hành, trang nghiêm vun bồi vô lượng đức hạnh trong vô số kiếp, chẳng màng lục trần, chẳng dính tham sân, chuyên cần pháp lành để lợi ích chúng sanh. Bồ Tát hoàn thành sáu Ba La Mật: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí huệ.

Cũng vì độ chúng sanh mà Bồ Tát đã hiện thân trong mọi loài để tùy thời cơ mà dìu dắt họ trên đường đạo; tất cả những sự nhẫn chịu trong sự khó nhẫn, làm những việc khó làm ấy đều vì những đại nguyện cứu khổ ban vui cho chúng sanh mà thôi.

Những đại thệ nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng thể hiện đại từ đại bi vô bờ bến và gánh vác trách nhiệm rộng lớn cho tất cả nhân dân trong cõi Cực Lạc, do đó chúng ta nên tin sâu để tăng trưởng Bồ đề tâm, tin tưởng công đức tu hành tràn đầy của đức Phật A Di Đà đã trang nghiêm cõi Cực Lạc cao quý. Có thấy những điều lợi ích như thế, chúng ta mới ham mộ phấn chí để tu hành được.

Ở đây, Phật A Di Đà đã tịnh hóa được tâm thức, dùng tâm thức thanh tịnh ấy biến hiện tạo thành Tịnh Độ. Nếu chúng sanh nhất tâm niệm Phật tức là gieo chánh niệm vào tịnh thức của Phật, như đổ một chậu nước vào biển cả. Nước chậu dung hòa với nước biển, cùng chung một hương vị; cũng như thế, khi chúng sanh đã sinh vào quốc độ của Chư Phật, sẽ được dung thông trở thành trang nghiêm như Chư Phật vậy.