Pháp Môn Tịnh Độ
NIỆM PHẬT A DI ĐÀ - Mục I
Pháp Môn Tịnh ĐộNIỆM PHẬT A DI ĐÀ - Mục I
Toàn Không
LỜI DẪN
Ngày nay, nhiều người niệm Phật A Di Đà để cầu vãng sinh Tây phương Cực Lạc. Điều này phù hợp với đại nguyện của đức Phật A Di Đà cứu độ chúng sinh về cõi Tịnh độ của Ngài để tiếp tục tu hành tới ngày thành Phật.
Do sự mong muốn của một số độc giả nên tôi viết ra những điều căn bản của Pháp Môn Tịnh Độ và của việc Hộ Niệm để giúp người tu biết làm thế nào để được vãng sanh, làm sao biết một người khi chết được vãng sinh hay không; có mấy phương thức tu Tịnh Độ, có bao nhiêu cách niệm Phật, và người tu phải làm những gì để đạt kết quả mỹ mãn?
Mong rằng: người tu Pháp Môn Niệm Phật A Di Đà nghiền ngẫm thật kỹ, ghi nhớ những điều phân tích khuyến tấn trong cuốn cẩm nang này trước khi bắt đầu thực hành, và về sau thỉnh thoảng nên đọc lại để được nhắc nhở.
Mặc dù trong sách nêu ra rất nhiều điều, nhưng chưa nói hết được mọi chi tiết, cách diễn đạt văn tự còn khuyết điểm, mong các vị Thiện tri thức bỏ qua cho, người viết muôn phần thành thật đa tạ.
Sau chót, chân thành cảm tạ và xin phép qúy Thiện tri thức, Phật tử, v.v... đã viết, dịch, in, ấn tống, xuất bản Kinh sách, đăng trên mạng, nhờ đó quyển sách “Pháp Môn Tịnh Độ” được thành hình đầy đủ.
Milpitas, Cali. USA ngày 16 - 10 - 201100Nam Mô Thích Ca Mâu Ni PhậtNam Mô A Di Đà Phật.Toàn Không Đỗ Đăng Tiến
DẪN NHẬP
TỊNH ĐỘ LÀ GÌ?
Tịnh là im lặng yên ổn trong sạch, Độ là cứu giúp, Tịnh Độ từ chữ Phạn: Buddhasetra là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh.
Trong hư không bao la vô biên: có vô lượng cõi nước (hành tinh), trong số đó có cõi Tịnh, có cõi Uế (như Sa Bà). Chúng sinh có tâm tịnh sinh về cõi Tịnh, có tâm uế sinh về cõi uế; nếu sinh về cõi uế thì nghiệp chướng mỗi ngày một sâu nặng, khó thành tựu pháp lành; còn sinh về cõi Tịnh thì nghiệp chướng mỗi ngày một tiêu trừ, dễ thành tựu pháp lành; ngay cả các cõi Tịnh độ cũng có nhiều sai biệt, trong đó cõi thù thắng nhất là thế giới Tây Phương Cực Lạc.
Để được đầy đủ và có thứ lớp, trước hết cần lược qua về ba Kinh căn bản của Tịnh Độ Tông, sau bàn đến phương cách tu, các điều nên biết và chuẩn bị. Sau chót nói đến cách thực hành hàng ngày của người tu Tịnh Độ. Chúng ta cùng theo dõi:
MỤC 1:
LƯỢC KINH A DI ĐÀ:
I) - CÕI TỊNH ĐỘ TRANG NGHIÊM:
Một thời Đức Phật ngự tại Tịnh xá Kỳ Hoàn, vườn Cấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo; lúc đó, có vô số Bồ Tát, Chư Thiên, Thiên Long Bát Bộ và tứ chúng tham dự.
Bấy giờ đức Phật bảo Tỳ Kheo Xá-Lợi-Phất rằng: "Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật (1) (xa quá 10 tỷ giải Ngân Hà), có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có đức Phật hiệu là A Di Đà (2) hiện nay đang nói pháp.
Xá Lợi Phất, cõi đó vì sao tên là Cực lạc?
Vì chúng sanh trong cõi Cực Lạc không có những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui; trong cõi đó có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bẩy từng hàng cây, đều bằng bảy báu bao bọc giáp vòng.
Lại có ao bằng bẩy báu, trong ao đầy nước đủ tám công đức (3); đáy ao thuần dùng kim cương làm cát trải trên đất bằng vàng. Vàng bạc, lưu ly, pha lê hợp thành những thềm đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng bảy báu là: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.
Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sáng trắng, nhiệm mầu thơm mát trong sạch.
Xá Lợi Phất, cõi Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
Trong cõi của đức Phật đó, thường trỗi (vang lên) nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời (4) rải hoa trời Mạn đà la; chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy giỏ đựng những hoa thơm đem cúng dường mười muôn ức đức Phật ở mười phương, đến giờ ăn liền trở về bản quốc ăn cơm xong đi kinh hành (5).
Xá Lợi Phất, cõi Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI NÓI KINH
Lại nữa, cõi đó thường có những giống chim mầu sắc xinh đẹp lạ thường, như chi m Bạch hạc, Khổng-tước, Anh-vũ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng-mạng; những giống chim đó ngày đêm sáu thời hót tiếng hòa nhã.
Tiếng chim đó diễn nói những pháp như Năm căn (6), Năm lực (7), Bảy giác Chi (8), Tám thánh đạo (9), v.v... Chúng sanh trong cõi đó nghe tiếng chim xong thảy đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng!
Xá-Lợi-Phất! Ông chớ cho rằng những giống chim đó là do tội báo sinh ra, vì cõi Cực Lạc không có ba đường ác, Xá-Lợi-Phất, cõi đó tên đường ác còn không có huống là có sự ác sao? Những giống chim đó là do đức Phật A Di Đà muốn cho tiếng pháp được tuyên lưu (bày tỏ chuyền đi) mà biến hóa ra đó thôi.
Trong cõi Cực Lạc, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, ví như trăm ngàn thứ nhạc đồng hòa chung; người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sinh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
Xá-Lợi-Phất: cõi Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
II) - DIỆU THẮNG CỦA PHẬT A DI ĐÀ:
Xá-Lợi-Phất: Ông nghĩ sao, Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà?
Vì đức Phật đó có hào quang sáng chói soi suốt vô lượng các cõi mười phương không bị chướng ngại (vô lượng quang); Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống vô lương A Tăng tỳ kiếp (vô lượng thọ). Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã 10 kiếp rồi (1 kiếp = 16 triệu 800 nghìn năm).
Lại trong cõi nước Cực Lạc có vô lượng Thanh Văn đệ tử đều là bậc A La Hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết hết được, hàng Bồ Tát chúng cũng đông như thế.
Xá Lợi Phất, cõi Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
Lại nữa, cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sinh đến đó đều là bậc bất thóai chuyển (10) (không bị đọa nữa); trong đó có rất nhiều vị bực nhất sanh bổ xứ (chuẩn bị thành Phật), số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết hết được, chỉ có thể dùng vô số a-tăng-kỳ để nói thôi!
Chúng sanh nào nghe những điều trên đây, nên phát nguyện cầu sinh sang cõi nước đó, vì sao? Vì: được cùng với các bậc Thượng thiện nhân ở cùng một chỗ.
III) - NHÂN CỦA VÃNG SINH:
Xá-Lợi-Phất! Chẳng có thể dùng chút ít thiện căn phước đức nhân duyên mà được sinh sang cõi đó.
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói đức Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu của đức Phật đó, hoặc trong một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bẩy ngày, một lòng không tán loạn. Thời người đó đến lúc lâm chung (chết) được đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân ở trước người đó. Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của đức Phật A Di Đà.
Xá Lợi Phất, ta thấy có những lợi ích ấy nên nói những lời như thế, nếu có chúng sinh nào nghe những lời trên, nên phát nguyện sinh sang cõi Cực Lạc.
IV) - CHƯ PHẬT KHUYÊN TIN:
Nói xong, đức Phật bảo Tôn giả Xá Lợi Phất:
- Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, thì hằng hà sa số chư Phật ở khắp sáu Phương Đông Tây Nam Bắc Trên Dưới đều ở tại nước các Ngài, hiện ra tướng lưỡi rộng dài (nói chân thật) trùm khắp cõi tam thiên đại thiên (1 cõi Phật) mà nói lời thành thật rằng: "Chúng sanh các ngươi phải nên tin xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của Kinh: “Nhất Thiết (một lòng) Chư Phật Sở Hộ (độ cho) Niệm (nhớ) Này", vì sao tên là Kinh Nhất-Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm?
Vì nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe Kinh này, và nghe danh hiệu của đức Phật A Di Đà mà thọ trì, thì những thiện nam tử cùng thiện nữ nhân ấy đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được không thoái chuyển nơi đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác (bậc giác ngộ hiểu biết chân chính, không còn bậc nào hơn được nữa).
Cho nên, các ông đều nên tin nhận lời của Ta và của Chư Phật nói; nếu có người đã phát nguyện, đang phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sinh về cõi nước của đức Phật A Di Đà, những người ấy đều được không thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thời đã sinh sang, đang sanh sang, hoặc sẽ sinh sang.
Xá-Lợi-Phất! Cho nên các thiện nam tử thiện nữ nhân, nếu người nào có lòng tin thì nên phát nguyện sinh về cõi nước kia. Như ta hôm nay ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của đức Phật A Di Đà, thời các đức Phật cũng ngợi khen công đức chẳng thể nghĩ bàn của Ta.
GIẢNG GIẢI:
Đọc Kinh trên, chúng ta thấy đức Phật nói rất rõ, duy có một số điểm cần tìm hiểu thêm, đó là:
- – Cõi Cực Lạc: Người đời đều nghi ngờ cõi Cực Lạc ở xa ngoài mười muôn ức cõi Phật quá xa, lúc sắp lâm chung chỉ trong khoảnh khắc e khó đến được, làm sao hiểu được điều này?
Trong Kinh nói: Tâm bao hư không trùm khắp pháp giới, thì mười muôn ức cõi Phật chỉ ở trong tâm ta, nào có xa xôi gì? Khoảnh khắc mạng chung sinh trong tâm ta, nào có khó khăn gì?
Vả lại, gọi mười muôn ức cõi nước là đối với cái nhìn của phàm phu, tâm trong sinh tử mà nói; nếu chúng sinh thành tựu Tịnh nghiệp, lúc lâm chung tâm an định tức là tâm thọ sinh Tịnh độ, vừa khởi niệm liền được vãng sinh. Vì thế cho nên Kinh nói: “Mười muôn ức cõi nước chỉ trong khoảnh khắc liền đến, tự tâm vốn huyền diệu vậy!”.
– Phật A Di Đà: Dịch từ chữ Phạn (Sanskrit): Amitabha Buddha: Buddha dịch âm Hán là Giác là Phật, Amita dịch âm là A Di Đà nghĩa là vô lượng, bha là Quang, Amitabha là vô lượng ánh sáng.
– Nước tám công đức là gì? Đó là:
1- Nước trong vắt không vẩn đục. 2- Nước mát dịu. 3- Nước thơm ngon ngọt. 4- Nước mềm mại nhẹ nhàng. 5- Nước thấm nhuần. 6- Nước an hòa lặng lẽ. 7- Nước trừ đói khát. 8- Nước nuôi lớn các căn.
- – Sáu thời là gì?
Ngày 6 thời, đêm 6 thời, ngày có các loại chim hót hòa nhã; Trung Hoa chia ra đêm năm canh, ngày sáu khắc.
- – Đi kinh hành là gì?
Đi kinh hành: Là đi bộ cho giãn gân cốt sau khi ngồi thiền hay niệm Phật lâu, vừa đi vừa niệm, quán tưởng, tham thiền, v.v..., cũng là kinh hành.
- – Năm Căn là gì?
Năm Căn là năm vấn đề căn bản, năm cội gốc, năm nguồn căn bản cho việc tu hành, đó là Tín Căn, Tinh Tấn Căn, Niệm Căn (nhớ nghĩ), Định Căn (tịch tĩnh), và Huệ Căn (trí tuệ).
- – Năm Lực là gì?
Năm Lực là năm sức mạnh mẽ, là năm năng lực sức lực; Năm Căn ví như năm ngón của bàn tay, còn Năm Lực ví như sức co ruỗi của các ngón tay để cầm, nắm, cấu véo, bóp, xoa. Năm Lực gồm có: Tín Lực, Tinh Tấn Lực, Niệm Lực, Định Lực, và Huệ Lực.
- – Bảy Giác Chi là gì?
Giác chữ Phạn là Boddhi (Bồ Đề) là giác ngộ; Chi là nhánh, là bảy loại tu tuần tự sẽ đạt đến đạo qủa, còn gọi là “Bảy Giác Phần”, bảy phương tiện thực hành sẽ giải thoát. Bảy giác chi gồm có: Niệm Giác Chi, Trạch Pháp Giác Chi (lựa chọn), Tinh Tấn Giác Chi, Hỷ Giác Chi, Khinh An Giác Chi, Định Giác Chi, và Xả Giác Chi.
- – Tám Chính Đạo là gì?
Tám Chính Đạo còn được gọi là Tám Thánh Đạo là con đường giải thoát, gồm có tám nhánh là Chính kiến (nhìn biết như thật), Chính tư duy (suy nghĩ đúng như thật), Chính ngữ (nói năng đúng sự thật), Chính nghiệp (hành động phải đạo), Chính mệnh (nghề nghiệp chân chính), Chính tinh tấn (siêng năng cần mẫn), Chính niệm (nhớ nghĩ không quên), Chính định (thanh tịnh sáng suốt); thiếu một trong tám nhánh không thành Bát chính đạo.
Do những lời nguyện trong khi tu hành, đức Phật A Di Đà đã trang nghiêm cõi Tịnh độ của Ngài thù thắng nên mới có đủ thứ như các hàng cây, lưới báu, cung điện, các loài chim, những âm thanh hòa tấu vi diệu, khiến người nghe được tự nhiên niệm Phật niệm Pháp niệm Tăng.
Nếu ai nghe danh hiệu Phật A Di Đà tin tưởng niệm danh hiệu Ngài từ một ngày cho đến bảy ngày, một lòng không tán loạn. Thời người đó đến lúc qua đời được đức Phật A Di Đà cùng hàng Thánh chúng hiện thân trước người đó để tiếp rước về cõi Cực Lạc.
10)- Bậc bất thoái chuyển:
Khi được sinh sang Tây phương Cực Lạc, rồi tiếp tục tu hành cho đến ngày thành Phật, nên không bị đoạ. Điều này có năm nhân duyên khiến người vãng sinh không thoái chuyển, đó là:
1. Do nguyện lực của Phật A-di-đà thường thâu nhiếp giữ gìn.
2. Do ánh sáng của Phật luôn soi chiếu, tâm Bồ-đề thường tăng trưởng.
3. Nước, chim, cây rừng, gió reo, nhạc tấu đều thuyết giáo nghĩa khổ, không; người nghe những pháp ấy thường khởi lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
4. Cõi nước Cực Lạc toàn là bậc Bồ-tát, Thượng nhân làm bạn lành, không có cảnh duyên xấu ác, không có quỷ thần, tà ma; các thứ phiền não Tam độc, v.v… hoàn toàn không sinh khởi.
5. Do sống lâu mãi mãi, đồng với Chư Phật và Chư Bồ-tát.