← Lịch

Vía Tổ Bồ Đề Đạt Ma

Ngày mùng 5 tháng Mười âm lịch, nhiều chùa Bắc tông làm lễ tưởng niệm Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Từ điển Phật học gọi ngày này là Đạt-ma kỵ, tức ngày giỗ của Tổ. Năm sinh và năm mất của Ngài thì đến nay vẫn chưa rõ, các tài liệu ghi mỗi nơi một khác.

Người ta thường gọi Ngài ngắn gọn là Tổ Đạt Ma. Tên Bodhidharma trong tiếng Phạn có nghĩa là "giáo pháp của sự tỉnh thức". Thiền tông tôn Ngài là vị Tổ thứ 28 tính từ Đức Phật, và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa. Từ dòng thiền ấy, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi, học trò của Tam tổ Tăng Xán, đã đem Thiền tông sang Việt Nam; về sau có thêm các dòng Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, rồi Trúc Lâm Yên Tử thời Trần.

Nửa sử, nửa truyền thuyết

Những gì ta biết về Tổ phần lớn là truyền thuyết. Ngay hai tài liệu sớm nhất, do những người cùng thời viết, đã nói khác nhau về quê quán: một bản chép Ngài là người Ba Tư ở vùng Trung Á, một bản chép Ngài là người Nam Ấn, con trai thứ ba của một vị vua. Ngày Ngài đến Trung Hoa cũng có hai thuyết, cách nhau mấy chục năm.

Truyện kể quen thuộc nhất là cuộc gặp với Lương Vũ Đế, một ông vua rất sùng đạo. Vua kể đã xây bao nhiêu chùa, chép bao nhiêu kinh, độ bao nhiêu người đi tu, rồi hỏi như thế có công đức gì không. Tổ đáp: không có công đức. Những việc ấy chỉ đem lại phước nhỏ ở cõi người, cõi trời; công đức thật là trí sáng suốt, tâm rỗng lặng, không thể đem việc bên ngoài mà cầu được. Vua hỏi tiếp người đang đứng trước mặt mình là ai, Tổ đáp: "Không biết." Cuộc vấn đáp ấy về sau thành công án đầu tiên trong sách Bích Nham Lục.

Thấy chưa gặp người hiểu mình, Tổ qua sông lên phía bắc, đến vùng núi Tung Sơn gần chùa Thiếu Lâm. Tương truyền Ngài ngồi chín năm quay mặt vào vách đá, không nói một lời. Lối thiền ấy được gọi là bích quán, nhìn vào vách, và gắn với việc làm cho tâm được yên.

Huệ Khả cầu pháp

Truyện kể có người tìm đến xin học, nhưng Tổ không chịu dạy. Người ấy đứng ngoài trời tuyết suốt nhiều tuần, rồi tự chặt cánh tay trái để tỏ lòng quyết chí. Đó là Huệ Khả, người về sau trở thành Nhị tổ Thiền tông Trung Hoa.

Tranh thủy mặc: Bồ Đề Đạt Ma ngồi quay mặt vào vách đá, Huệ Khả đứng phía sau, tay cầm cánh tay đã chặt
Huệ Khả dâng cánh tay cầu pháp — tranh của Sesshū Tōyō, Nhật Bản, năm 1496.

Khi sắp đi, Tổ gọi các đệ tử đến trình chỗ hiểu của mình. Người thứ nhất được Tổ bảo "được phần da", người thứ hai "được phần thịt", người thứ ba "được phần xương". Đến lượt Huệ Khả, ông chỉ lễ Tổ rồi đứng yên, không nói gì. Tổ bảo: "Ngươi được phần tủy của ta." Tổ trao y bát cho Huệ Khả làm tin, có sách chép trao thêm bộ kinh Lăng Già.

Về cuối đời Tổ cũng có nhiều truyện khác nhau. Một truyện kể sau khi Tổ mất, có vị quan gặp Ngài trên núi Thông Lĩnh, tay xách một chiếc dép, nói là đang về Ấn Độ. Mở mộ ra thì chỉ còn lại một chiếc dép. Vì thế tranh tượng Tổ hay vẽ Ngài vác gậy, treo một chiếc dép.

Theo sử gia Nguyễn Lang, có thể Tổ từng đến Giao Châu, tức đất Việt xưa, vào cuối đời Lưu Tống. Còn chuyện Tổ sáng lập võ Thiếu Lâm chỉ phổ biến từ thế kỷ 20. Các nhà sử học cho rằng chuyện ấy không có cơ sở.

Hai lối vào đạo

Tác phẩm được nhiều học giả tin là của chính Tổ chỉ có một: Nhị nhập tứ hạnh luận, bàn về hai lối vào đạo. Lối thứ nhất là thấy thẳng vào bản tánh. Lối thứ hai là bốn hạnh thực hành giữa đời:

  • Báo oán hạnh: gặp khổ thì nhận đó là quả của những gì mình đã gieo, không oán trách.
  • Tùy duyên hạnh: gặp vui hay buồn đều giữ lòng bình thản.
  • Vô sở cầu hạnh: không chạy theo mong cầu.
  • Xứng pháp hạnh: buông vọng tưởng, sống theo sáu hạnh ba-la-mật.

Bốn hạnh này giản dị đến bất ngờ, và dùng được ngay hôm nay.

Gợi ý cho ngày giỗ Tổ

  • Ngồi thiền một thời, quay về với hơi thở như Tổ quay mặt vào vách. Mới tập thì thử Thiền tĩnh tâm mười phút.
  • Tụng Bát Nhã Tâm Kinh, bài kinh ngắn về tánh Không.
  • Dâng hương, hoa, trà lên bàn thờ Phật, Tổ.
  • Giữ im lặng một buổi: bớt nói, bớt xem điện thoại, để ý xem tâm mình chạy đi đâu.
  • Gặp một chuyện không vừa ý trong ngày, thử dùng hạnh đầu tiên: nhận lấy, không oán trách.