Kinh Vu Lan

Cử tán

Kim lư vừa bén chiên đàn Cắm xong pháp giới đạo tràng mười phương

Hiện thành mây báu kiết tường Chư Phật rõ biết ngọn hương chí thành

Pháp thân toàn thể hiện tiền Chứng minh hương nguyện phước liền ban cho

Nam-mô Hương-Vân-Cái Bồ-tát (3 lần) Nam-mô Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật (3 lần)

Kệ khai kinh

Pháp Phật cao siêu lý ẩn sâu Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu

Con nay nghe được Kinh trì tụng Nguyện đức Như-Lai giải nghĩa mầu

Nam-mô Đại-hiếu Mục-Kiền-Liên Bồ-tát

(3 lần)

Phật nói Kinh Vu Lan Bồn

Con từng nghe lời tán như vầy: Một thuở nọ Thế Tôn an trụ

Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung

Mục Liên mới đặng lục thông Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm luân.

Công dưỡng dục thâm ân dốc trả Nghĩa sanh thành đạo cả mong đền

Làm con hiếu hạnh vi tiên Bèn dùng huệ nhãn, dưới trên kiếm tầm.

Thấy vong mẫu sanh làm ngạ quỉ Không uống ăn tiều tụy hình hài

Mục Liên thấy vậy bi ai Biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm.

Lo phẩm vật đem dâng từ mẫu Đặng đỡ lòng cực khổ bấy lâu

Thấy cơm, mẹ rất lo âu Tay tả che đậy, hữu hầu bốc ăn.

Lòng bỏn xẻn tiền căn chưa dứt Sợ chúng ma cướp giựt của bà

Cơm đưa chưa tới miệng đà Hóa thành than lửa, nuốt mà đặng đâu.

Thấy như vậy âu sầu thê thảm Mục-Kiền-Liên bi cảm xót thương

Mau mau về đến giảng đường Bạch cùng Sư Phụ tìm phương giải nàn.

Phật mới bảo rõ ràng căn cội Rằng mẹ ông gốc tội rất sâu

Dầu ông thần lực nhiệm mầu Một mình không thể ai cầu được đâu.

Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn Tiếng vang đồn thấu đến Cửu Thiên

Cùng là các bậc Thần kỳ Tà ma ngoại đạo, bốn vì Thiên Vương

Cộng ba cõi sáu phương tu tập Cũng không phương cứu cấp mẹ ngươi.

Muốn cho cứu đặng mạng người, Phải nhờ thần lực của mười phương Tăng.

Pháp cứu tế ta toan giải nói Cho mọi người thoát khỏi ách nàn.

Bèn kêu Mục thị đến gần Truyền cho diệu pháp ân cần thiết thi:

Rằm tháng Bảy là ngày Tự Tứ Mười phương Tăng đều dự lễ này

Phải toan sắm sửa chớ chầy Thức ăn trăm món, trái cây năm màu.

Lại phải sắm giường nằm nệm lót Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang, dầu

Món ăn tinh sạch báu mầu Đựng trong bình bát vọng cầu kính dâng.

Chư Đại đức mười phương thụ thực Trong bảy đời sẽ được siêu thăng

Lại thêm cha mẹ hiện tiền Đặng nhờ phước lực tiêu khiên ách nàn.

Vì ngày ấy Thánh Tăng đều đủ Dầu ở đâu cũng tụ hội về

Như người thiền định sơn khê Tránh điều phiền não, chăm về thiền na.

Hoặc người đặng bốn tòa đạo quả Công tu hành nguyện thỏa vô sanh

Hoặc người thọ hạ kinh hành Chẳng ham quyền quý ẩn danh lâm tòng.

Hoặc người đặng lục thông tấn phát Và những hàng Duyên Giác, Thanh Văn

Hoặc chư Bồ-tát mười phương Hiện hình làm sãi ở gần chúng-sanh.

Đều trì giới rất thanh, rất tịnh Đạo đức dày chánh định chân tâm

Tất cả các bậc Thánh, Phàm Đồng lòng thụ lãnh bát cơm lục hòa.

Người nào có sắm ra vật thực Đặng cúng dường Tự Tứ Tăng thời

Hiện tiền phụ mẫu của người Bà con quyến thuộc thảy đều nhờ ơn.

Tam đồ khổ chắc rằng ra khỏi Cảnh thanh nhàn hưởng thụ tự nhiên.

Như còn cha mẹ hiện tiền Nhờ đó cũng đặng bách niên thọ trường.

Như cha mẹ bảy đời quá vãng Sẽ hóa sanh về cõi thiên cung

Người thời tuấn tú hình dung Hào quang chiếu sáng khắp cùng châu thân.

Phật lại bảo mười phương Tăng chúng Phải tuân theo thể thức sau này:

Trước khi thụ thực đàn chay Phải cần chú nguyện cho người tín gia.

Cầu thất thế mẹ cha thí chủ Định tâm thần quán đủ đừng quên

Cho xong ý định hành thiền Mới dùng phẩm vật đàn tiền hiến dưng

Khi thụ dụng, nên an vật thực Trước Phật đài hoặc tự tháp trung

Chư Tăng chú nguyện viên dung Sau rồi tự tiện thụ dùng bữa trưa.

Pháp cứu tế Phật vừa nói dứt Mục Liên cùng Bồ-tát chư Tăng

Đồng nhau tỏ dạ vui mừng Mục Liên cũng hết khóc thương rầu buồn.

Mục Liên mẫu cũng trong ngày ấy Kiếp khổ về ngạ quỉ được tan.

Mục Liên bạch với Phật rằng: Mẹ con nhờ sức Thánh Tăng khỏi nàn

Lại cũng nhờ oai thần Tam Bảo Bằng chẳng thì nạn khổ khó ra.

Như sau đệ tử xuất gia Vu Lan Bồn pháp dùng mà độ sanh

Độ cha mẹ còn đương tại thế Hoặc bảy đời có thể đặng không?

Phật rằng: Lời hỏi rất thông Ta vừa muốn nói, con trùng hỏi theo.

Thiện nam tử, Tỳ-kheo nam nữ Cùng Quốc-vương, Thái-tử, Đại thần

Tam-công, Tể-tướng, Bách quan Cùng hàng lê thứ vạn dân cõi trần

Như chí muốn đền ơn cha mẹ Hiện tại cùng thất thế tình thâm

Đến rằm tháng Bảy mỗi năm Sau khi kiết hạ, chư Tăng tựu về

Chính ngày ấy Phật Đà hoan hỷ Phải sắm sanh bách vị cơm canh

Đựng trong bình bát tinh anh Chờ giờ Tự tứ, chúng Tăng cúng dường

Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Chẳng ốm đau cũng chẳng khổ chi

Cùng cầu thất thế đồng thì Lìa nơi ngạ quỉ, sanh về nhơn, thiên

Đặng hưởng phước nhân duyên vui đẹp Lại xa lìa nạn khổ cực thân

Môn sanh Phật tử ân cần Hạnh tu hiếu thuận phải cần phải chuyên

Thường cầu nguyện thung huyên an hảo Cùng bảy đời phụ mẫu siêu sanh

Ngày rằm tháng Bảy mỗi năm Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải đền.

Lễ cứu tế chí thành sắp đặt Ngõ cúng dường chư Phật chư Tăng

Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân buổi đầu.

Đệ tử Phật lo âu gìn giữ Mới phải là Thích tử Thiền môn.

Vừa nghe dứt pháp Lan Bồn Môn sanh tứ chúng thảy đồng hỷ hoan

Mục Liên với bốn ban Phật tử Nguyện một lòng tin thủ phụng hành.

Trước là trả nghĩa sinh thành Sau là cứu vớt chúng-sanh muôn loài.

Mục Liên tôn-giả, Thay Phật tuyên hành

Gậy vàng vừa gõ Cửa ngục băng thanh

Mọi người thoát tội Tịnh Độ hóa sanh

Phúc tuệ mãi an lành Nam-mô Đại-hiếu Mục-Kiền-Liên Bồ-tát (3 lần)

Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu

Phật thuyết Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu

Một thuở nọ, Thế Tôn an trụ Xá Vệ thành Kỳ Thụ viên trung

Chư Tăng câu hội rất đông Tính ra tới số hai muôn tám ngàn.

Lại cũng có các hàng Bồ-tát Hội tại đây đủ mặt thường thường.

Bây giờ, Phật mới lên đường Cùng hàng đại chúng Nam phương tiến hành.

Đáo bán lộ, đành rành mắt thấy Núi xương khô bỏ đấy lâu đời

Thế Tôn bèn vội đến nơi Lạy liền ba lạy rồi rơi giọt hồng.

Đức A Nan tủi lòng ái ngại Chẳng hiểu sao Phật lạy đống xương?

Vội vàng xin Phật dạy tường Thầy là Từ Phụ ba phương, bốn loài

Ai ai cũng kính Thầy dường ấy Cớ sao Thầy lại lạy xương khô?

Phật rằng: Trong các môn đồ, Ngươi là đệ tử đứng đầu dày công

Bởi chưa biết đục trong cho rõ Nên vì ngươi, ta tỏ đuôi đầu:

Đống xương dồn dập bấy lâu Cho nên trong đó biết bao cốt hài

Chắc cũng có ông bà cha mẹ Hoặc thân ta hoặc kẻ ta sanh

Luân hồi sanh tử, tử sanh Lục thân đời trước thi hài còn đây

Ta lễ bái kính người tiền bối Và ngậm ngùi vì nhớ kiếp xưa

Đống xương hỗn tạp chẳng vừa Không phân trai gái bỏ bừa khó coi

Ngươi chịu khó xét soi cho kỹ Phân làm hai, bên nữ bên nam

Để cho phân biệt cốt phàm Không còn lộn lạo nữ nam chất chồng.

Đức A Nan trong lòng tha thiết Biết làm sao phân biệt khỏi sai

Ngài bèn xin Phật chỉ bày Vì khó chọn lựa gái trai lúc này

Còn sanh tiền dễ bề sắp đặt Cách đứng đi ăn mặc phân minh

Chớ khi rã xác tiêu hình Xương ai như nấy khó nhìn khó phân.

Phật mới bảo: A Nan nên biết Xương nữ nam phân biệt rõ ràng

Đàn ông xương trắng nặng hoằng Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn.

Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ? Bởi đàn bà sanh đẻ mà ra

Sanh con ba đấu huyết ra Tám hộc, bốn đấu sữa hòa nuôi con

Vì cớ ấy hao mòn thân thể Xương đàn bà đen nhẹ hơn trai.

A Nan nghe vậy bi ai Xót thương cha mẹ công dày dưỡng sanh.

Bèn cầu Phật thi ân dạy bảo Phương pháp nào báo hiếu song thân?

Thế Tôn mới bảo lời rằng: Vì ngươi, ta sẽ phân trần, khá nghe!

Thân đàn bà nhiều bề cực nhọc Sanh đặng con thập ngoạt cưu mang

Tháng đầu, thai đậu tợ sương Mai chiều gìn giữ sợ tan bất thường.

Tháng thứ nhì dường như sữa đặc Tháng thứ ba như cục huyết ngưng

Bốn tháng đã tượng ra hình Năm tháng ngũ thể hiện sinh rõ ràng.

Tháng thứ sáu lục căn đều đủ Bảy tháng thì đủ bộ cốt xương

Lại thêm đủ lỗ chân lông Cộng chung đến số tám muôn bốn ngàn.

Tháng thứ tám hoàn toàn tạng phủ Chín tháng thì đầy đủ vóc hình

Mười tháng thì đến kỳ sinh Nếu con hiếu thuận xuôi mình ra luôn.

Bằng ngỗ nghịch làm buồn thân mẫu Nó vẫy vùng, đạp quấu lung tung

Làm cho cha mẹ hãi hùng Sự đau, sự khổ, khôn cùng tỏ phân

Khi sản xuất muôn phần an lạc Cũng ví như được bạc, được vàng.

Thế Tôn lại bảo A Nan: Ơn cha nghĩa mẹ mười phần phải tin.

Điều thứ nhứt: giữ gìn thai giáo Mười tháng trường châu đáo mọi bề.

Thứ hai: sanh đẻ gớm ghê Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm phần.

Điều thứ ba: thâm ân nuôi dưỡng Cực đến đâu bền vững chẳng lay.

Thứ tư: ăn đắng uống cay Để dành bùi ngọt đủ đầy cho con.

Điều thứ năm: lại còn khi ngủ Ướt mẹ nằm, khô ráo phần con.

Thứ sáu: bú sữa nhai cơm Miễn con no ấm chẳng nhờm chẳng ghê.

Điều thứ bảy: không chê ô uế Giặt đồ dơ của trẻ không phiền.

Thứ tám: chẳng nỡ chia riêng Nếu con đi vắng cha phiền, mẹ lo.

Điều thứ chín: miễn con sung sướng Dầu phải mang nghiệp chướng cũng cam

Tính sao có lợi thì làm Chẳng màng tội lỗi, bị giam, bị cầm.

Điều thứ mười: chẳng ham trau chuốt Dành cho con các cuộc thanh nhàn

Thương con như ngọc như vàng Ơn cha nghĩa mẹ sánh bằng Thái Sơn.

Phật lại bảo: A Nan nên biết, Trong chúng-sanh tuy thiệt phẩm người

Mười phần mê muội cả mười Không tường ơn trọng đức dày song thân.

Chẳng kính mến quên ơn trái đức Không xót thương dưỡng dục cù lao

Ấy là bất hiếu mạc giao Vì những người ấy đời nào nên thân.

Mẹ sanh con cưu mang mười tháng Cực khổ dường gánh nặng trên vai

Uống ăn chẳng đặng vì thai Cho nên thân thể hình hài kém suy.

Khi sanh sản hiểm nguy chi xiết Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề

Ví như thọc huyết trâu dê Nhất sanh thập tử nhiều bề gian nan.

Con còn nhỏ phải lo săn sóc Ăn đắng cay, bùi ngọt phần con

Phải tắm phải giặt rửa trôn Biết rằng dơ dáy, mẹ không ngại gì.

Nằm phía ướt, con nằm phía ráo Sợ cho con ướt áo, ướt chăn

Hoặc khi ghẻ chóc khắp thân Ắt con phải chịu trăm phần thảm thương.

Trọn ba năm bú nương sữa mẹ Thân gầy mòn nào nệ với con

Khi con vừa được lớn khôn Cha mẹ dạy bảo cho con vỡ lòng.

Cho đi học mở thông trí huệ Dựng vợ chồng có thế làm ăn

Ước mong con được nên thân Dầu cho cha mẹ cơ bần quản chi.

Con đau ốm tức thì lo chạy Dầu tốn hao đến mấy cũng đành

Khi con căn bệnh đặng lành Thì cha mẹ mới an thần định tâm.

Công dưỡng dục sánh bằng non biển Cớ sao con chẳng biết ơn này

Hoặc khi làm lỗi bị rầy Chẳng tuân thì chớ, lại bày ngỗ ngang.

Hỗn cha mẹ, phùng mang trợn mắt Khinh trưởng huynh, nộ nạt thê nhi

Bà con chẳng kể ra chi Không tuân sư phụ, lễ nghi chẳng tường.

Lời dạy bảo song đường không kể Tiếng khuyên răn anh chị chẳng màng

Trái ngang chống báng mọi đàng Ra vào lui tới mắng càn người trên.

Vì lỗ mãng tánh quen càn bướng Chẳng kể lời trưởng thượng dạy răn

Lớn lên theo thói hung hăng Đã không nhẫn nhịn, lại càng hành hung.

Bỏ bạn lành, theo cùng chúng dữ Nết tập quen, làm sự trái ngang

Nghe lời dụ dỗ quân hoang Bỏ cha bỏ mẹ trốn sang quê người.

Trước còn tập theo thời theo thế Thân lập thân, tìm kế sanh nhai

Hoặc đi buôn bán kiếm lời Hoặc vào quân lính với đời lập công.

Vì ràng buộc đồn công mối nợ Hoặc trở ngăn vì vợ, vì con

Quên cha, quên mẹ tình thâm Quên xứ, quên sở, lâu năm không về.

Ấy là nói những người có chí Chớ phần nhiều du hí mà thôi

Sau khi phá hết của rồi Phải tìm phương kế kiếm đồi đồng xài.

Theo trộm cướp, hoặc là bài bạc Phạm tội hình, tù rạc phải vương

Hoặc khi mang bệnh giữa đường Không người nuôi dưỡng, bỏ thân ngoài đồng.

Hay tin dữ bà con cô bác Cùng mẹ cha xao xác buồn rầu

Thương con than khóc âu sầu Có khi mang bịnh đui mù vấn vương.

Hoặc bịnh nặng vì thương quá lẽ Phải bỏ mình làm quỉ giữ hồn

Hoặc nghe con chẳng lo lường Trà đình tửu điếm phố phường ngao du.

Cứ mải miết với đồng bất chính Chẳng mấy khi thần tỉnh mộ khang

Làm cho cha mẹ than van Sanh con bất hiếu phải mang tiếng đời.

Hoặc cha mẹ đến hồi già yếu Không ai nuôi thốn thiếu mọi điều

Ốm đau đói rách kêu rêu Con không cấp dưỡng, bỏ liều chẳng thương.

Phận con gái còn nương cha mẹ Thì có lòng hiếu đễ thuận hòa

Cần lao phục dịch trong nhà Dễ sai, dễ khiến hơn là nam nhi.

Song đến lúc, tùng phu xuất giá Lo bên chồng chẳng sá bên mình

Trước còn lai vãng đến thăm Lần lần nguội lạnh biệt tăm biệt nhàn.

Quên dưỡng dục song thân ân trọng Không nhớ công mang nặng đẻ đau

Chẳng lo báo bổ cù lao Làm cho cha mẹ buồn rầu thảm thay!

Nếu cha mẹ la rầy quở mắng Trở sanh lòng hờn giận chẳng kiêng

Chớ chi chồng đánh liên miên Thì cam lòng chịu chẳng phiền chẳng than.

Tội bất hiếu lưỡng ban nam nữ Nói không cùng nghiệp dữ phải mang

Nghe Phật chỉ rõ mọi đàng Trong hàng đại chúng lòng càng thảm thay.

Gieo xuống đất, lấy cây lấy củi Đập vào mình, vào mũi, vào hông

Làm cho các lỗ chân lông Thảy đều rướm máu ướt đầm cả thân.

Đến hôn mê tâm thần bất định Một giây lâu mới tỉnh than rằng:

Bọn con quả thật tội nhân Xưa nay chẳng rõ, không hơn người mù.

Nay tỏ ngộ biết bao lầm lạc Ruột gan dường như nát như tan

Tội tình khó nỗi than van Làm sao trả đặng muôn ngàn ân sâu.

Trước Phật tiền, ai cầu trần tố Xin Thế Tôn mẫn cố bi lân

Làm sao báo đáp thù ân Tỏ lòng hiếu thuận song thân của mình?

Phật bèn dùng phạm thanh sáu món Phân tỏ cùng đại chúng lắng nghe:

Ân cha, nghĩa mẹ nặng nề Không phương báo đáp cho vừa sức đâu.

Ví có người ân sâu dốc trả Cõng mẹ cha tất cả hai vai

Giáp Tu Di núi chẳng sai Đến trăm ngàn kiếp ân kia chưa vừa.

Ví có người gặp cơn đói rét Nuôi song thân dâng hết thân này

Xương nghiền thịt nát phân thây Trải trăm ngàn kiếp ân đây chưa đồng.

Ví có người vì công sanh dưỡng Tự tay mình khoét thủng song ngươi

Chịu thân mù tối như vầy Đến trăm ngàn kiếp ơn này thấm đâu.

Ví có người cầm dao thật bén Mổ bụng ra rút hết tâm can

Huyết ra khắp đất chẳng than Đến trăm ngàn kiếp thâm ân đâu bằng.

Ví có người dùng ngàn mũi nhọn Đâm vào mình bất luận chỗ nào

Tuy là sự khó biết bao Trải trăm ngàn kiếp không sao đáp đền.

Ví có người vì công dưỡng dục Tự treo mình, cúng Phật thế đèn

Cứ treo như vậy trọn năm Trải trăm ngàn kiếp ân thâm chưa đền.

Ví có người xương nghiền ra mỡ Hoặc dùng dao chặt bửa thân mình

Xương tan, thịt nát chẳng phiền Đến trăm ngàn kiếp ơn trên chưa đồng.

Ví có người vì công dưỡng dục Nuốt sắt nóng thấu ruột thấu gan

Làm cho thân thể tiêu tan Đến trăm ngàn kiếp thâm ân chưa đền.

Nghe Phật nói thảy đều kinh khủng Giọt lệ tràn khó nỗi cấm ngăn

Đồng thanh bạch Phật lời rằng: Làm sao trả đặng ân thâm song đường?

Phật mới bảo các hàng Phật tử: Phải lắng nghe ta chỉ sau này

Các ngươi muốn đáp ơn dày Phải nên biên chép Kinh đây lưu truyền.

Vì cha mẹ trì chuyên phúng tụng Cùng ăn năn những tội lỗi xưa

Cúng dường Tam Bảo sớm trưa Cùng là tu phước, chẳng chừa món chi.

Rằm tháng Bảy đến kỳ Tự Tứ Thập phương Tăng đều dự lễ này

Sắm sanh lễ vật đủ đầy Chờ giờ câu hội đặt bày cúng dâng.

Đặng cầu nguyện song đường trường thọ Hoặc sanh về Tịnh Độ an nhàn

Ấy là báo đáp thù ân Sanh thành dưỡng dục song thân của mình.

Mình cần phải tụng Kinh lạy Phật Pháp Tam Quy, bậc nhất giới trai

Những lời ta dạy hôm nay Các ngươi nhớ lấy từ đây phụng hành.

Được như vậy mới là khỏi tội Bằng chẳng thì ngục tối phải sa

Trong năm đại tội kể ra Bất hiếu thứ nhứt, thật là trọng thay.

Sau khi chết, bị đày vào ngục Ngũ Vô Gián cũng gọi A Tỳ

Ngục này trong núi Thiết Vi Vách phên bằng sắt vây quanh bốn bề.

Trong ngục này hằng ngày lửa cháy Đốt tội nhân hết thảy thành than

Có lò nấu sắt cho tan Rót vào trong miệng tội càng hành hình.

Vì bất hiếu nên mình thọ khổ Lột thịt ra máu đổ tràn lan

Lại có chó sắt cắn gan Phun ra khói lửa đốt đoàn tội nhân.

Ở trong ngục có giường bằng sắt Bắt tội nhơn nằm khắp đó xong

Rồi cho một ngọn lửa hồng Nướng quay chúng nó da phồng thịt phao.

Móc bằng sắt thương đao gươm giáo Trên không trung đổ tháo như mưa

Gặp ai chém nấy chẳng chừa Làm cho thân thể nát nhừ như tương.

Những hình phạt vô phương kể hết Mỗi ngục đều có cách trị riêng

Như là xe sắt phân thây Chim ưng mổ bụng, trâu cày lưỡi lê.

Nếu mà đặng chết liền đã đỡ Vì nghiệp duyên không nỡ hành thân

Ngày đêm chết sống muôn lần Đến trăm ngàn kiếp không ngừng một giây

Sự hành phạt tại A Tỳ ngục Rất nặng nề ngỗ nghịch song thân

Chúng ngươi đều phải ân cần Thừa hành các việc phân trần khoảng trên.

Nhứt là phải Kinh này in chép Truyền bá ra cho khắp Đông Tây

Như ai chép một quyển này Ví bằng đặng thấy một vì Thế Tôn.

Nếu in được ngàn muôn quyển ấy Thì cũng bằng thấy Phật vạn thiên

Do theo nguyện lực tùy duyên Chư Phật ủng hộ y như sở nguyền.

Cha mẹ đặng xa miền khốc lãnh Lại hóa sanh về cõi thiên cung

Khi lời Phật giảng vừa xong Khắp trong tứ chúng một lòng kính vâng.

Lại phát nguyện thà thân này nát Ra bụi tro muôn kiếp chẳng nài

Dầu cho kéo lưỡi trâu cày Đến trăm ngàn kiếp lời Thầy không quên.

Ví như bị bá thiên đao kiếm Khắp thân này đâm chém phanh thây

Hoặc như lưỡi trói thân này Trải trăm ngàn kiếp lời thầy chẳng sai.

Dẫu thân này bị cưa bị chặt Phân chia ra muôn đoạn rã rời

Đến trăm ngàn kiếp như vầy Chúng con cũng chẳng trái lời thầy khuyên.

Đức A Nan kiền thiền đảnh lễ Cầu Thế Tôn đặt để hiệu kinh

Ngày sau truyền bá chúng-sanh Dễ bề phúng tụng kiên tinh tu hành

Phật mới bảo: A Nan nên biết Quyển Kinh này quả thiệt cao xa

Đặt tên "BÁO HIẾU MẸ CHA" Cùng là "ÂN TRỌNG" thật là chơn kinh.

Các ngươi phải giữ gìn châu đáo Đặng đời sau, y giáo phụng hành.

Sau khi Phật dạy đành rành Bốn hàng Phật tử rất mừng rất vui

Thảy một lòng vâng theo lời Phật Và kính thành tin chắc vẹn tuyền

Đồng nhau trở lại Phật tiền Nhất tâm đảnh lễ, rồi liền lui ra.

Tâm Kinh

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Tâm trí tuệ thanh thanh rộng lớn Sáng trong ngần chẳng bợn mây trần

Làu làu một tánh thiên chân Bao trùm muôn loại chẳng phân Thánh phàm.

Vẫn tâm ấy lặng trong sáng suốt Cõi bờ kia một bước đến nơi

Trải lòng tròn đủ xưa nay Công thành quả chứng tỏ bày đích đang.

Hàng Bồ-tát danh Quán Tự Tại Khi tham thiền vô ngại đến trong

Thẩm vào trí huệ mở thông Soi thấy năm uẩn đều không có gì.

Độ tất cả không chi khổ ách Trong thức tâm hiện cảnh sắc ra

Sắc, Không, chung ở một nhà Không chẳng khác Sắc, Sắc nào khác Không.

Ấy Sắc tướng cũng đồng Không tướng Không tướng y như tượng Sắc kia

Thụ, Tưởng, Hành, Thức phân chia Cũng lại như vậy, cũng về chân không.

Tòa sắc tướng nhơn ông tạm đó Các pháp kia tướng nọ luống trơn

Chẳng sanh chẳng dứt thường chơn Chẳng cấu, chẳng tịnh, chẳng sờn, chẳng thêm.

Cớ ấy nên cõi trên không giới Thể làu làu vô ngại thường chân

Vốn không ngũ uẩn ấm thân Sáu căn chẳng có, sáu trần cũng không.

Thấy rỗng không mà không nhãn giới Biết hoàn toàn thức giới cũng không

Tánh không sáng suốt đại đồng Vô minh chẳng có mựa hòng hết chi.

Vẫn không có thân gì già chết Huống chi là hết chết già sao

Tứ đế cũng chẳng có nào Không chi là trí, có nào đắc chi.

Do vô sở đắc ly tất cả Nhơn pháp kia đều xả nhị không

Vận lòng trí huệ linh thông Bờ kia mau đến tâm không ngại gì.

Không quái ngại có chi khủng bố Tức xa lìa mộng tưởng đảo điên

Tâm không rốt ráo chu viên Niết bàn quả chứng chơn nguyên hoàn toàn.

Tam thế Phật, y đàng Bát Nhã Đáo Bồ Đề chứng quả chánh chơn

Cho hay Bát nhã là hơn Pháp môn tối thắng cõi chơn mau về.

Thiệt thần chú linh tri đại lực Thiệt thần chú đúng bực quang minh

Ấy chú tối thượng oai linh Ấy chú vô đẳng thinh thinh oai thần.

Trừ tất cả nguyên nhân các khổ Thức tỉnh lòng giác ngộ vô sư

Thiên nhiên chơn thiệt bất hư Án lam Thần chú Chơn Như thuyết rằng:

Yết-đế, Yết-đế, Ba La Yết-đế,

Ba La Tăng Yết-đế, Bồ-Đề Tát Bà Ha

Yết-đế, Yết-đế, Ba La Yết-đế,

Ba La Tăng Yết-đế, Bồ-Đề Tát Bà Ha

Yết-đế, Yết-đế, Ba La Yết-đế,

Ba La Tăng Yết-đế, Bồ-Đề Tát Bà Ha

Vãng sanh thần chú

Nam-mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa tì ca lan đế, A di rị đa tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na, Chỉ đa ca lệ ta-bà ha.

Nam-mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa tì ca lan đế, A di rị đa tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na, Chỉ đa ca lệ ta-bà ha.

Nam-mô a di đa bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha. A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ, A di rị đa tì ca lan đế, A di rị đa tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na, Chỉ đa ca lệ ta-bà ha.

Tán Phật A Di Đà

Chúng Thích tử kiền thiền xưng tán Đức Di Đà vô hạn lợi sanh

Bốn mươi tám nguyện viên thành Hiện ra tướng tốt sắc thân tuyệt vời.

Kim sắc tướng muôn ngàn công đức Khắp mười phương chẳng bậc sánh bằng

Bạch hào hiển hiện phóng quang Sáu vầng chiếu sáng Di San năm tòa.

Cảnh thanh nhãn thấy xa vô ngại Sáng trong ngần tứ đại hải dương

Hào quang hóa Phật không lường Hóa chúng Bồ-tát số nương hằng hà.

Độ chúng-sanh Liên hoa chín phẩm Nước Lạc bang là cảnh Tây-phương

Chí thành tâm niệm chiếu chương Hiện tiền tăng chúng dẫn đường vãng sanh.

Niệm hồng danh

Nam-mô Tây-phương Cực-Lạc Thế-giới Đại từ Đại-bi Tiếp-Dẫn Đạo-sư A-Di-Đà Phật

Nam-mô A-Di-Đà Phật (3 lần) Nam-mô Đại-bi Quán-Thế-Âm Bồ-tát (3 lần)

Nam-mô Đại-Thế-Chí Bồ-tát (3 lần) Nam-mô Địa-Tạng-Vương Bồ-tát (3 lần)

Nam-mô Đại-hiếu Mục-Kiền-Liên Bồ-tát (3 lần) Nam-mô Thanh-tịnh Đại-Hải-Chúng Bồ-tát (3 lần)

Phát nguyện báo hiếu

Đệ tử chúng con, Vâng lời Phật dạy,

Ngày rằm tháng Bảy, Gặp hội Vu Lan,

Phạm vũ huy hoàng, Đốt hương đảnh lễ.

Mười phương Tam thế, Phật, Pháp, Thánh hiền,

Noi gương đức Mục-Kiền-Liên, Nguyện làm con thảo.

Lòng càng áo não, Nhớ nghĩa thân sanh.

Con đến trưởng thành, Mẹ dày đau khổ.

Ba năm nhũ bộ, Chín tháng cưu mang.

Không ngớt lo toan, Quên ăn bỏ ngủ,

Ấm no đầy đủ, Cậy có công cha,

Chẳng quản yếu già, Sanh nhai lam lũ.

Quyết cùng hoàn vũ, Phấn đấu nuôi con,

Giáo dục vuông tròn, Đem đường học đạo.

Đệ tử ơn sâu chưa báo, Hổ phận kém hèn,

Giờ này quỳ trước đài sen, Chí thành cung kính,

Đạo tràng thanh tịnh, Tăng bảo trang nghiêm.

Hoặc thừa Tự tứ, Hoặc hiện tham thiền,

Đầy đủ thiện duyên, Rủ lòng lân mẫn,

Hộ niệm cho: Bảy kiếp cha mẹ chúng con,

Đượm nhuần mưa pháp. Còn tại thế:

Thân tâm yên ổn, Phát nguyện tu trì.

Đã quá đời: Ác đạo xa lìa,

Chóng thành Phật quả. Ngửa trông các đức Như-Lai,

Khắp cõi hư không, Từ bi gia hộ.

Hồi hướng công đức

Phúng Kinh công đức thù thắng hạnh. Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện pháp giới chư chúng-sanh. Tốc vãng Vô Lượng Quang Phật sát.

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não. Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ. Thế thế thường hành Bồ-tát đạo.

Nguyện sanh Tây-phương Tịnh độ trung. Cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ Vô sanh. Bất thối Bồ-tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức. Phổ cập ư nhất thiết

Ngã đẳng dữ chúng-sanh. Giai cộng thành Phật đạo.

Tam quy y

Tự quy y Phật, đương nguyện chúng-sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm.

(1 lạy)

Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng-sanh, thâm nhập Kinh tạng, trí huệ như hải.

(1 lạy)

Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng-sanh, thống lý đại chúng, nhứt thiết vô ngại.

(1 lạy)

Kệ hồi hướng

Nguyện đem công đức này, Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng-sanh, Đều trọn thành Phật đạo.

(1 lạy)

0:0072:09
Chạm màn hình để giữ màn hình luôn sáng
Hành trì tu tập